Hậu quả phân cấp đầu tư

“Quy hoạch ngành xi măng là đúng đắn, nhưng hiệu lực quy hoạch quá yếu, dẫn đến việc ngành xi măng gần như đã “vỡ trận”. Không chỉ vỡ quy hoạch mà còn vỡ nợ và hệ lụy của nó để lại không phải nhỏ” - TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhận định như vậy khi trao đổi với ĐTTC.

Minh định trách nhiệm doanh nghiệp và nhà nước

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, ông có thấy việc thực hiện quy hoạch đối với ngành công nghiệp này có vấn đề?

TS. LÊ ĐĂNG DOANH: - Quy hoạch và dự báo là yêu cầu quan trọng của nền kinh tế, chúng ta vẫn đang tiếp tục hoàn thiện mô hình dự báo dài hạn. Việt Nam xây dựng quy hoạch xi măng là đúng đắn và đã thực hiện từ rất sớm. Nhưng việc phát triển ồ ạt của các nhà máy xi măng không phải là câu chuyện thiếu quy hoạch mà là hiệu lực của nó.

Hậu quả phân cấp đầu tư ảnh 1

Các địa phương và các tập đoàn đã đầu tư vào xi măng vượt quá quy hoạch, trong khi Nhà nước không có cơ chế để “hãm”. Điều này dẫn đến hiệu lực quy hoạch bị phá vỡ. Thậm chí có cảm tưởng như đề ra quy hoạch chẳng để làm gì. Đây là bài học mà chúng ta cần nghiêm túc nhìn nhận và sửa đổi cho quá trình phát triển sau này.

Trước đây, khi có dấu hiệu vượt quá quy hoạch, chỉ cần Ủy ban Kinh tế nhà nước không cho phép sẽ phải tạm dừng. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang thực hiện phân cấp đầu tư, dẫn đến việc đầu tư rất phân tán và quy hoạch dễ bị “đâm thủng”.

Thực tế, các địa phương đều muốn thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, khi không có gì để tăng tỷ trọng công nghiệp nên sự lựa chọn số một của nhiều địa phương là đầu tư các nhà máy xi măng, đặc biệt khu vực phía Bắc do nguyên liệu dồi dào.

Hiện nay một số địa phương vẫn tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy xi măng khi tình trạng dư thừa xi măng đã ở mức báo động. Chưa hết, theo số liệu của Hiệp hội Xi măng Việt Nam, năm 2013 sẽ có 6 nhà máy xi măng với tổng công suất 6,72 triệu tấn đi vào hoạt động.

Chỉ với các nhà máy xi măng hiện tại, lượng xi măng trong nước đã dư thừa, khó tiêu thụ, từ đầu năm tới nay nhiều nhà máy xi măng lỗ vốn, phải đóng cửa và không trả được nợ… thì với 6 dự án mới này quy hoạch sẽ lại bị vỡ thêm một lần nữa.

Nên nhớ rằng, đối với xi măng, trông cậy lớn nhất vẫn là trong nước, việc xuất khẩu hiện nay rất khó, một số nhà máy cũng chỉ xuất khẩu clinke. Điều này sẽ dẫn đến lãng phí về tiền vốn, tài nguyên và đẩy các doanh nghiệp vào cảnh nợ nần.

- Hiện đã có 4 nhà máy xi măng gồm Đồng Bành, Hạ Long, Cẩm Phả và Thái Nguyên lâm vào cảnh nợ nần thua lỗ, Nhà nước đã phải đứng ra bảo lãnh tín dụng cho nhà máy xi măng Đồng Bành. Điều này sẽ dẫn đến hệ lụy gì, thưa ông?

- Rõ ràng, điều này đã tạo nên một tiền lệ xấu. Những công ty xi măng làm ăn kém hiệu quả, gây thất thu, nợ xấu lại chính là các doanh nghiệp nhà nước. Nằm dưới sự quản lý của các bộ, ngành, những đơn vị này có sự hiểu biết về thị trường chứ không đơn thuần là việc đầu tư chạy theo lợi nhuận. Nhưng khi họ thua lỗ, Nhà nước lại đứng ra gánh nợ. Tại sao phải gánh?

Tôi cho rằng các tổng công ty đã lợi dụng việc được bảo trợ của Nhà nước. Cũng không loại trừ lợi ích nhóm với việc duyệt bảo trợ này. Hệ lụy dễ nhìn thấy tiếp theo là khi Nhà nước trả nợ hộ cho doanh nghiệp (DN), nợ của Nhà nước sẽ tăng lên. Và khoản nợ này sẽ đổ vào thuế, người dân sẽ phải chịu thiệt. Ở đây đã có một sự không rõ ràng, minh bạch giữa trách nhiệm của DN và trách nhiệm của Nhà nước.

Loại bỏ DN yếu kém, không gánh nợ thay

- Vậy giải pháp nào cho ngành công nghiệp xi măng hiện nay?

Không thể không nhắc đến một tác nhân là thị trường bất động sản. Khi thị trường này sốt nóng, các nhà máy xi măng được đầu tư một cách ồ ạt, vượt quá quy hoạch đến 30-40%. Khi thị trường đóng băng, các nhà máy xi măng nghiễm nhiên sẽ chết theo, rơi vào khủng hoảng không lối thoát.

- Tôi cho rằng trước mắt cần có sự rà soát lại một cách cụ thể. Dự án nào dừng được thì dừng hẳn, dự án nào mới bắt đầu phải điều chỉnh cho hợp với quy hoạch. Đối với những nhà máy yếu kém phải kiên quyết cho phá sản.

Chúng ta đã có quy hoạch, đã hội nhập, nên các DN xi măng phải chịu tác động của cơ chế thị trường, làm ăn thua lỗ sẽ bị loại bỏ, Nhà nước không thể đứng ra gánh nợ cho DN mãi được. Đặc biệt khi ngành xi măng đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng thừa.

Bên cạnh đó, việc thực hiện quy hoạch yếu là căn bệnh cần phải có những khung pháp lý, cần nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước. Đề ra quy hoạch là một chuyện, nhưng thực hiện quy hoạch như thế nào mới là chuyện quan trọng, không chỉ riêng ngành xi măng.

Bên cạnh đó, việc đầu tư các nhà máy xi măng cần phải có sự đồng ý của địa phương. Từ đó suy ra một vấn đề phải được xem xét: Địa phương kinh doanh phải phù hợp với thực trạng, năng lực thực tế của họ. Không thể vì nâng tỷ trọng công nghiệp địa phương hay phải có nhà mày xi măng cho “bằng chị bằng em” mà đổ xô đầu tư để rồi thua lỗ và gánh nợ.

- Dư luận đang xôn xao việc một nhà máy xi măng từng làm ăn phát đạt bậc nhất nay phải trả thuế bằng xi măng. Ông bình luận như thế nào?

- Việc kinh doanh của DN này đã có vấn đề, bởi tác động ngoại cảnh và bản thân bên trong doanh nghiệp. Tôi được biết DN này chết một phần vì vốn vay. Tuy nhiên, tôi ủng hộ phương án trả thuế bằng xi măng. Đây là trường hợp đặc biệt trong một hoàn cảnh đặc biệt.

Dĩ nhiên nếu trong môi trường bình thường, việc này sẽ trở thành bất thường, nhưng trong hoàn cảnh thị trường bất động sản suy yếu, các DN xi măng tiến thoái lưỡng nan như hiện nay, có thể coi đây là giải pháp có lợi cho cả đôi bên. Doanh nghiệp có thể giải phóng được hàng tồn, giảm được áp lực về tài chính. Nhà nước có thể dùng những nguyên vật liệu này để xây dựng các công trình.

Nó cũng giống như xu hướng thời gian gần đây đang nở rộ trên thị trường bất động sản là đổi vật liệu xây dựng lấy công trình, hoặc cho ứng vật liệu xây dựng trước rồi thanh toán tiền sau, sẽ tốt cho cả đôi bên. Những phương cách tháo gỡ này mang tính chất đối phó nhất thời nhưng là việc cần được nghiên cứu và khuyến khích.

- Xin cảm ơn ông.

Nguyên Khôi (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

(ĐTTCO) - Mới đây, trong văn bản cho ý kiến về dự án BT (đổi đất lấy hạ tầng) đại lộ ven sông Sài Gòn, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT), cho rằng TPHCM cần yêu cầu Tập đoàn Tuần Châu bổ sung các nội dung còn thiếu, như chứng minh năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự cho phù hợp quy định.