Hạn chế tác động tiêu cực

Sở hữu chéo thắt chặt mối liên kết giữa các đối tác kinh doanh, giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài, tuy nhiên cũng bộc lộ không ít hạn chế đáng lưu ý.

Bất cập sở hữu chéo

Hạn chế tác động tiêu cực ảnh 1
Sở hữu chéo tạo nguồn tài chính dồi dào bền vững, đặc biệt đối với các doanh nghiệp là công ty con, công ty liên doanh, liên kết có cổ đông chi phối là NH. Sở hữu chéo làm giảm nguy cơ thâu tóm thù địch vì với cơ cấu sở hữu ổn định, hạn chế tranh chấp nội bộ.

Tuy nhiên, sở hữu chéo bộc lộ nhiều hạn chế. Trước nhất, việc sở hữu chéo có thể dẫn tới các giao dịch bất hợp lý, phi thị trường giữa các tổ chức có quan hệ sở hữu lẫn nhau. Các giao dịch này có thể dẫn tới các hành vi chuyển giá, trốn thuế... Điều này còn ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản trị công ty.

Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định không thuần túy vì mục đích kinh doanh; không hoàn toàn vì lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ lẻ, cổ đông không nắm giữ quyền chi phối, quản lý, điều hành doanh nghiệp bị thua thiệt.

Thực tế sở hữu chéo làm giảm mức độ minh bạch và sức cạnh tranh cũng như động lực phát triển trong hoạt động doanh nghiệp, tạo ra sự e ngại, tác động không tốt tới việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt từ các cổ đông chiến lược.

Trong trường hợp các NH sở hữu cổ phần chi phối tại các doanh nghiệp không hoạt động trong lĩnh vực tài chính NH, một mặt, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn với chi phí hợp lý.

Tuy nhiên chính điều này làm giảm động lực phát triển, giảm tính năng động, tạo sức ì lớn cho doanh nghiệp, giảm sự cạnh tranh của doanh nghiệp (do quá lệ thuộc, ỷ lại vào nguồn vốn từ NH là cổ đông lớn), thậm chí có thể dẫn tới các quyết định đầu tư, kinh doanh thiếu thận trọng, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trường hợp là các cổ phiếu niêm yết khi thị trường suy giảm, thiệt hại của danh mục đầu tư này làm giảm tổng giá trị tài sản của các tổ chức tín dụng, giảm năng lực tín dụng (do phải tuân thủ các quy định về an toàn vốn trong hoạt động NH), từ đó làm giảm thanh khoản của hệ thống NH.

Việc sở hữu chéo còn có thể dẫn tới tình trạng tăng vốn ảo. Cụ thể, các doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho nhau, hạch toán sở hữu cổ phiếu (bù trừ cho nhau) và không kèm theo việc thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp tăng vốn ảo từ việc sở hữu chéo, các cổ đông khác sẽ bị thiệt hại do tác động của hiện tượng pha loãng (số lượng cổ phiếu tăng trong khi năng lực tạo lợi nhuận không tăng), làm sụt giảm giá thị trường của cổ phiếu.

Điều này đã tác động tiêu cực tới TTCK, đặc biệt tại các doanh nghiệp niêm yết. Lý do là các cổ đông sở hữu chéo thông thường nắm giữ cổ phần của nhau trong một thời gian dài, mà nếu lượng cổ phiếu nắm giữ bởi các cổ đông này quá lớn, phần cổ phiếu tự do chuyển nhượng còn lại ít thì cổ phiếu đó rất dễ bị lạm dụng, thao túng thị trường.

Tăng cường giám sát

Sở hữu chéo nếu phổ cập ở diện rộng, với quy mô lớn và trong một thời gian dài, sẽ làm tích tụ những hạn chế gây ra nhiều nguy cơ, có thể làm trì trệ nền kinh tế do các doanh nghiệp mất động lực cạnh tranh, ít sáng tạo. Các nguồn vốn của nền kinh tế bị phân bổ không hợp lý, không hiệu quả, gây lãng phí.

Thời gian vừa qua, Bộ Tài chính, UBCKNN đã và đang nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu tái cấu trúc TTCK. Một số giải pháp đã và đang triển khai thực hiện cũng có thể góp phần nhằm hạn chế tình trạng sở hữu chéo, cụ thể như: tái cấu trúc cơ sở hàng hóa nhằm mục tiêu đa dạng hóa và nâng cao chất lượng hàng hóa; tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư nhằm mục tiêu đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư theo hướng tăng dần tỷ trọng của nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các quỹ đầu tư; tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán.

UBCKNN đang tiến hành xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, trong đó có hạng mục quản lý tỷ lệ sở hữu tại các CTCK và công ty quản lý quỹ, tiến tới quản lý tỷ lệ sở hữu các công ty đại chúng, từng bước giám sát sở hữu trực tiếp và sở hữu gián tiếp, tránh việc lợi dụng sở hữu chéo để thực hiện cạnh tranh không lành mạnh, thôn tính doanh nghiệp.

Liên quan tới vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo, UBCKNN xác định một mạng lưới sở hữu chéo giữa các thành viên trên TTCK, đặc biệt là các tổ chức kinh doanh chứng khoán, có thể làm giảm tính minh bạch của thị trường, tiềm ẩn rủi ro đối với tài sản của nhà đầu tư và xung đột lợi ích.

Chính vì vậy, việc hạn chế sở hữu chéo đã được xác lập và thể chế hóa từ năm 2007 tại các nghị định của Chính phủ. Tuy nhiên, cần lưu ý, các quy định nêu trên không áp dụng đối với các tổ chức khác không hoạt động và chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật chứng khoán, bao gồm cả các tổ chức tín dụng.

Để kiểm soát tình hình sở hữu tại các CTCK, công ty quản lý quỹ, Bộ Tài chính cũng ban hành các thông tư, trong đó có các quy định yêu cầu báo cáo các giao dịch lớn, chiếm từ 10% trở lên vốn điều lệ, hoặc dẫn đến tỷ lệ sở hữu của một số cổ đông vượt qua hoặc xuống dưới các mức sở hữu 10%, 25%, 50%, 75% vốn điều lệ của công ty.

TSKH. Nguyễn Thành Long, Vụ trưởng Vụ Quản lý các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đầu tư vô bổ, lãng phí nguồn lực

Đầu tư vô bổ, lãng phí nguồn lực

(ĐTTCO) - Vừa qua, UBND TP Hà Nội đã thông tin về việc sẽ xây dựng dự án Nhà hát Hoa Sen sức chứa 2.000 chỗ ngồi bên trong, khu vực xung quanh nhà hát có thể chứa khoảng 25.000 người vào vui chơi hàng ngày.