Để DN tư nhân trả “học phí” thấp nhất

(ĐTTCO) – Trong hoàn cảnh mới gia nhập TPP, AEC, các DN tư nhân Việt Nam cần tăng cường liên kết với nhau và với các loại hình DN khác để phát triển với “học phí” thấp nhất.

Để DN tư nhân trả “học phí” thấp nhất ảnh 1 

Vai trò của khối DN tư nhân trong tổng thể nền kinh tế là không thể phủ nhận. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam với trên 50% GDP là từ đóng góp của khối DN tư nhân.

Trong Báo cáo Việt Nam 2035 mới công bố vào cuối tháng 2 vừa qua của Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm gợi ý các bước đưa Việt Nam trở thành một nước thu nhập trung bình cao trong vòng 2 thập kỷ tới cũng đã nhấn mạnh một lần nữa tầm quan trọng của khối DN tư nhân khi cho rằng Việt Nam cần xây dựng khu vực này với khả năng cạnh tranh, thực hiện quá trình đô thị hoá một cách hiệu quả, khuyến khích sáng tạo và tận dụng các cơ hội thương mại mới mở ra nhằm thực hiện cải cách trên quy mô lớn.

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho khối DN tư  nhân cũng được WB xác định là một trong 3 trụ cột quan trọng giúp Việt Nam đạt được những mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Trong Bảng xếp hạng Top 500 DN tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Vietnam Report công bố mới đây cũng cho thấy DN tư nhân vẫn là khối có số lượng DN tăng trưởng nhanh, chiếm tỉ trọng lớn hơn nhiều so với hai khối Nhà nước và FDI (72%). Tỉ lệ tăng trưởng hằng năm kép bình quân (CAGR) của khối này cũng ở mức cao nhất là 35,7%.

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, DN Việt Nam nói chung và khối DN tư nhân nói riêng ngày càng có thêm nhiều điều kiện trực tiếp giao thương và tiếp nhận đầu tư một cách rộng mở với các nước có nền công nghiệp và kinh tế hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Đức, Pháp, Anh, v.v...

Tuy nhiên để nắm bắt được những cơ hội tăng trưởng và vượt qua được những khó khăn trước mắt, các DN, đặc biệt là khối tư nhân cần nhìn nhận và xác định được rõ vị trí hiện tại của mình, những cơ hội và thách thức để từ đó xác định được hướng đi đúng đắn nhất.

Xét về những cơ hội khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), điều đầu tiên phải kể đến là các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã mở ra điều kiện rộng rãi để không chỉ xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ với điều kiện thuận lợi, mà còn có thể tiếp nhận vốn đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ (kể cả công nghệ nguồn) thuận lợi từ các nước công nghiệp phát triển nhất thế giới.

Từ đó, có thể có thêm điều kiện tăng nhanh tỉ trọng của DN Việt tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu, không chỉ ở các khâu dễ làm, gia tăng thấp, mà cả ở các khâu đòi hỏi có công nghệ cao hơn, sáng tạo hơn, phát huy các lợi thế so sánh tĩnh để phát triển năng lực cạnh tranh trong thị trường toàn cầu. Đó cũng chính là con đường để từng DN và cả nền kinh tế bớt dần sự lệ thuộc vào một đối tác cụ thể.

Với việc thi hành các thỏa thuận về Cộng đồng ASEAN, từ nay Cộng đồng Kinh tế bao gồm 10 nước trong khu vực sẽ hình thành khu vực thị trường thống nhất, hình thành các trung tâm sản xuất có quy mô lớn, bổ sung cho nhau, với thị trường 600 triệu dân và thu nhập đang tăng nhanh. Việt Nam là nước có trình độ phát triển chưa cao, nhưng việc hình thành AEC sẽ có thể hỗ trợ lẫn nhau về đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hình thành khu vực kinh tế có tính liên kết cao hơn, nối kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ. 

Theo một kết quả khảo sát DN trong các bảng xếp hạng VNR500, FAST500 và V1000 do Vietnam Report thực hiện tháng 1/2016 có thể thấy, về cơ bản các DN cũng cho rằng hội nhập TPP sẽ mở ra cơ hội cạnh tranh lành mạnh, tiếp cận các thị trường hàng hóa của các quốc gia phát triển khi có nhiều chính sách ưu đãi thuế quan...

Tuy nhiên, các FTA đang thi hành cũng đặt Việt Nam ở vị thế trực tiếp cạnh tranh mạnh mẽ hơn. Từ đó cũng xuất hiện các khó khăn, thách đố mới đa dạng hơn. Với việc mở ra thị trường liên kết chặt chẽ với 55 nước trên thế giới, trong đó có 10 nước khu vực, các FTA sẽ có độ tương tác khá đa dạng.

Trước hết là khó khăn nội tại. Hầu hết các DN nội địa thuộc khu vực tư nhân là DN nhỏ và vừa, với quy mô trung bình chỉ dưới 30 công nhân, rất ít DN lớn; quy mô vốn và tài sản, trình độ KHCN cũng khá thấp. Do đó, nếu chỉ “liên kết trong nhà” thì sẽ lâm vào tình trạng “cơm chấm cơm”, sẽ khó cạnh tranh ngay trong thị trường AEC, càng khó hơn khi tham gia TPP. Trong khi đó, nếu muốn mở ra liên kết với các nền kinh tế lớn, công nghệ cao của TPP thì tiềm lực về vốn, công nghệ và nhân lực thường không cao nên sẽ khó hình thành các đơn vị có khả năng tham gia cạnh tranh bình đẳng. Kinh nghiệm giao thương quốc tế cũng có nhiều hạn chế, làm cho khả năng hội nhập gặp nhiều khó khăn, kể cả trình độ ngoại ngữ, pháp lý…

Hai là, khó khăn về môi trường thể chế. Mặc dù Việt Nam đã chủ động thương lượng và ký kết AEC, TPP, nhưng khuôn khổ pháp lý còn nhiều điểm phải sửa đổi để không chỉ nâng cấp, đồng bộ hóa khuôn khổ pháp lý, hệ thống quản lý Nhà nước và đội ngũ công chức để có điều kiện tạo dựng môi trường sản xuất, kinh doanh tốt nhất cho DN (trong đó có chính sách về bảo đảm quyền sở hữu tài sản, sở hữu trí tuệ còn khá mới mẻ trong nước và xử lý các tranh chấp quốc tế). Những khó khăn trong tiếp cận vốn, đất đai, thủ tục hành chính cũng là khó khăn không nhỏ.

Ba là, khó khăn khách quan khi các DN phải hội nhập trong một sân chơi chung, chấp nhận cạnh tranh, nhưng ít hiểu biết về thông lệ quốc tế và những vấn đề phức tạp của pháp lý và thông lệ quốc tế, kể cả ngoại ngữ, văn hóa đa dạng. Trong điều kiện thế giới đầy biến động thì những khó khăn này cũng tăng lên, khi nước nào cũng đều muốn tiến ra thị trường quốc tế.

Nhưng suy cho cùng, khó khăn lớn nhất vẫn là vượt qua được chính mình, tạo dựng ý chí chủ động vươn lên trong mọi hoàn cảnh, trước hết giành phần thắng trên sân nhà, thị trường nội địa. Từ đó từng bước tìm các “kẽ nhỏ” để đưa sản phẩm, dịch vụ của DN từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Trong hoàn cảnh mới, các DN tư nhân Việt Nam cần tăng cường liên kết với nhau và với các loại hình DN để cùng vượt khó.

Thói quen làm việc trong các tập thể đa dạng chưa được phổ biến, những bỡ ngỡ ban đầu sẽ gây thêm khó khăn, thậm chí cả thất bại và DN phải trả “học phí” nhất định. Nhưng Việt Nam đang có lợi thế khi có 4,5 triệu người Việt sinh sống ở nước ngoài, với hàng trăm nghìn chuyên gia bậc cao đang hoạt động thành công, chắc chắn sẽ là cầu nối tới thành công.

GS.TSKH Nguyễn Quang Thái

(Chinhphu.vn)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất