HỘI THẢO CÁC GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NgƯ DÂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Cơ hội đánh thức tiềm năng to lớn

LTS: Để có đánh giá toàn diện về việc ban hành và thực hiện các chính sách, giải pháp hỗ trợ ngư dân trong phát triển kinh tế biển, đúc kết những kinh nghiệm để thực hiện hiệu quả hơn trong thời gian tới, ngày 22-12-2013 tại TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội phối hợp với Bộ NN-PTNN, Tỉnh ủy Phú Yên, Báo SGGP tổ chức hội thảo: “Các giải pháp hỗ trợ ngư dân phát triển kinh tế biển”. Trước hội thảo, để rộng đường dư luận, báo ĐTTC giới thiệu một số tham luận tại hội thảo.

Định hướng đúng đắn

Vùng biển nước ta rộng trên 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền); bờ biển dài 3.260km, trung bình 300km2 đất liền có 1km bờ biển, cao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới; có khoảng 3.000 hòn đảo. Dọc bờ biển và trên biển Việt Nam có 29/63 tỉnh, thành phố, với 12 thành phố lớn, 125 huyện, thị xã ven biển có quy mô dân số hơn 29 triệu người, chiếm 34,6% dân số cả nước; mật độ dân số 373 người/km2, gấp 1,5 lần mật độ dân số trung bình của cả nước; 100 cảng biển, khoảng 238.000 cụm công nghiệp và gần 1.000 bến cá.

Kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp khoảng 50% GDP cả nước, trong đó riêng kinh tế trên biển chiếm khoảng 22%; các ngành quan trọng như dầu khí, hàng hải, thủy sản, du lịch biển đều tăng trưởng với nhịp độ cao. Quả thực biển có một vị trí ngày càng lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rõ vị trí, vai trò đó.

Các trang trại nông nghiệp nuôi trồng thủy sản khắp cả nước đều có hiệu quả cao hơn hẳn so với các loại hình  trang trại kinh doanh khác, đồng thời là nơi nông dân được hưởng nhiều chính sách ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước như hỗ trợ vốn, được giao quyền sử dụng đất đai lớn hơn, được miễn giảm thuế…

Thế giới đang bước vào “kỷ nguyên đại dương”, “vươn ra biển”, biển đã trở thành đối tượng chủ đạo trong các chính sách phát triển của các quốc gia có biển. Nhận thức được vai trò to lớn đó, Đảng và Nhà nước ta đã luôn có những chủ trương, đường lối, chính sách chỉ đạo phát triển kinh tế và hỗ trợ ngư dân và các cộng đồng dân cư sống ở các vùng biển và hải đảo.

Ngày 9-2-2007, Hội nghị Trung ương 4, khóa X, ra Nghị quyết 09-NQ/TW về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Quốc hội khóa XIII tại phiên họp ngày 21-6-2012 của kỳ họp thứ 3 đã bỏ phiếu thông qua Luật Biển.

Chiến lược biển trở thành một trong những công cụ quan trọng thực hiện chính sách biển trong tình hình mới, xác định khung pháp lý cơ bản cho việc tiến ra biển của đất nước, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, tạo điều kiện phát triển và xây dựng đất nước.

Thực ra, quá trình xây dựng Luật Biển đã được tiến hành ngay sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Luật Biển 1982. Luật Biển là văn bản pháp lý cao nhất của Việt Nam thể hiện sự khẳng định chủ quyền, các nguyên tắc và cơ chế quản lý các chính sách của Nhà nước ta đối với các vùng biển và hải đảo.

 Cũng để triển khai thực hiện Chiến lược biển, ngày 28-4-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 568/CP về Phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020, trong đó xác định phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững kinh tế của hệ thống các đảo, tạo bước đột phá về phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển nước ta; đồng thời xây dựng hệ thống các đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Lĩnh vực trọng yếu ưu tiên đầu tư bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo, vùng ven biển, các phương tiện kết nối đảo với đất liền và các tuyến giao thông chính lẫn giao thông nội bộ, kết hợp với quốc phòng - an ninh; phấn đấu đến năm 2020 có 100% dân cư các huyện đảo, xã đảo được sử dụng điện; đảm bảo hồ chứa nước cho các đảo lớn. Về hạ tầng thông tin-truyền thông, đảm bảo độ bao phủ rộng, tốc độ nhanh; tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông trên các đảo có dân sinh sống, gồm tổng đài cố định, hệ thống truy cập internet và các trạm truy cập vệ tinh, nhằm đảm bảo thông tin thông suốt trong mọi điều kiện thời tiết.

Phát huy ngành kinh tế mũi nhọn   

Nước ta rất quan tâm phát triển ngành thủy sản, đã có nhiều chính sách và cơ chế được ban hành nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển và thực tế thủy sản đã trở thành ngành kinh tế biển mũi nhọn với mức tăng trưởng nhanh. Từ chỗ chỉ có vài chục ngàn thuyền đánh cá thủ công, đến năm 2011 đã có hơn 100.000 tàu thuyền cá cơ giới hoạt động. Năm 1980 khai thác và nuôi trồng được khoảng 600.000 tấn hải sản, đến 2011 đã cung cấp trên 5 triệu tấn.

Nhà nước khuyến khích ngư dân bằng những hỗ trợ khác nhau nhằm hình thành nhiều tổ đội đánh bắt, khai thác trên mặt biển. Việc tổ chức thực hiện các chính sách này còn hạn chế do các tiêu chí đánh giá rủi ro chưa rành mạch, chưa thống nhất nên việc triển khai thiếu nhất quán, không công bằng, cần được nghiên cứu cải tiến phù hợp thực tế.

 Và năm 1980 xuất khẩu được trên 10 triệu USD, nay tăng lên trên 6,5 tỷ USD. Nghề cá đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm của đất nước; tạo việc làm cho trên 4 triệu người, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống các cộng đồng dân cư ven biển và hải đảo.

Từ năm 1997, với sự hỗ trợ vốn đóng tàu và cầu cảng trên bờ, đã tạo cú hích đánh cá xa bờ. Đến nay, số tàu thuyền đánh cá lớn trên 90 CV đã lên tới hàng chục ngàn chiếc so với vài ngàn chiếc cách đây 15 năm, góp phần gia tăng sản lượng cá khai thác. Tuy nhiên, việc đầu tư dàn trải và quá ồ ạt cũng gây ra một số hậu quả như hiệu quả giảm sút, nguồn lợi bị suy giảm và đe dọa cạn kiệt.

Khuyến khích và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cơ bản cho các vùng nuôi, Nhà nước đưa ra các chính sách giao đất, hỗ trợ khai phá các vùng đất bãi bồi ven biển, vốn tín dụng với lãi suất thấp, nghiên cứu giống mới và chuyển giao công nghệ cũng như khuyến ngư miễn phí…

Đến nay cả nước đã hình thành hệ thống sản xuất giống (đặc biệt là giống tôm, cua) với hàng ngàn trang trại và doanh nghiệp, một mạng lưới mua bán kinh doanh thức ăn thủy sản cũng phát triển. Những hoạt động đó đã lôi cuốn và đem lại cuộc sống ấm no cho hàng triệu người, trong đó nhiều người trở nên giàu có.

Đặc biệt Chính phủ cho phép chuyển đổi hàng trăm ngàn ha ruộng cấy lúa ven biển kém hiệu quả sang nuôi tôm và các hải sản khác, biến nước mặn thành một tài nguyên mang lại hiệu quả cao, nhất là ở các vùng ven biển ĐBSCL và các vùng đất cát ven biển miền Trung. Nhờ vậy, nhiều địa phương ven biển như Cà Mau, Bến Tre, Bạc Liêu, Tiền Giang, Phú Yên, Khánh Hòa... nuôi trồng thủy sản đã trở thành ngành kinh tế chủ lực.

Đi đôi với việc thực thi các chính sách phát triển, nhận thức vấn đề quan trọng là phải bảo vệ được môi trường và nguồn lợi cho phát triển thủy sản một cách bền vững. Chính phủ đã ban hành Nghị định 85/CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Trong đó tất cả hành vi phá các bãi san hô, bãi thực vật ngầm dưới nước, rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn là nơi ở, sinh sản của các loài thủy sản; xả các chất thải độc hại, các loại thực vật có độc tố gây ô nhiễm vùng nước sinh sống của các loài thủy sản… đều bị xử lý nghiêm.

An sinh xã hội ngư dân

Ngày 18-3-2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 289/QĐ-TTg về việc hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, trong đó có hỗ trợ ngư dân mua mới, đóng mới tàu đánh bắt hải sản, hỗ trợ kinh phí bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên, hỗ trợ tiền dầu.

Quyết định 289 ra đời trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam rơi vào đà suy giảm, đã phần nào giúp ngư dân nghèo khắc phục khó khăn, bám biển sản xuất, duy trì khai thác thủy hải sản, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống ngư dân nghèo, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng trên các vùng biển, góp phần đảm bảo nguồn thực phẩm cho nhu cầu nội địa cũng như tăng thêm nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, góp phần ổn định giá cả thực phẩm, kiềm chế lạm phát và ổn định đời sống xã hội.

Cơ hội đánh thức tiềm năng to lớn ảnh 1

Đội tàu đánh bắt xa bờ.Ảnh: BÙI OANH

Thực hiện Quyết định 289 cũng giúp tăng cường công tác quản lý tàu cá nhờ việc đăng ký lại lực lượng tàu nhỏ, đăng kiểm và cấp giấy phép khai thác thủy sản. Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý đánh giá được thực trạng năng lực đánh bắt hải sản, nhất là năng lực khai thác vùng gần bờ, cơ cấu tàu thuyền và cơ cấu nghề nghiệp khai thác, tạo điều kiện để quy hoạch lại, lập kế hoạch chuyển đổi và sắp xếp bố trí lại lực lượng sản xuất nghề cá của các địa phương.

Bên cạnh đó, nhằm giúp giảm bớt những thiệt hại do bão gió, lốc xoáy… gây ra, ngày 25-7-2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 118/2007/QĐ-TTg hỗ trợ rủi ro thiên tai trên biển đối với các tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển, ven biển.

Các chính sách trên đã giúp nhiều tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước để khôi phục sản xuất khi không may gặp rủi ro, được ngư dân hết sức hoan nghênh và các địa phương đang tích cực triển khai hiệu quả.

TS. Hạ Xuân Thông, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Kinh tế 2 thủy sản

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải thi công chậm tiến độ và mới được kết nối tới chân công trình Cảng CMH. Ảnh: Minh Tuấn

Vừa thanh tra toàn diện, vừa thu hồi dự án?

(ĐTTCO) - Sau khi ĐTTC có bài phản ánh “Dự án Cảng Tổng hợp-Container Cái Mép Hạ: Nhiều dấu hiệu khuất tất”, ngày 8-12-2017, phóng viên ĐTTC đã liên hệ lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm rõ những khiếu nại của chủ đầu tư về việc tỉnh thu hồi dự án trái pháp luật và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện dự án.