Chuyên nghiệp thời trang Việt

Hướng đi để gia tăng giá trị cho ngành dệt may được vạch ra là các doanh nghiệp (DN) Việt Nam phải tìm cách thoát khỏi gia công và nỗ lực xây dựng các thương hiệu thời trang riêng. Tuy nhiên, sau nhiều năm nỗ lực, ngành công nghiệp thời trang Việt  dường như vẫn dậm chân tại chỗ và ngày càng bị đẩy lùi bởi thời trang ngoại.

Yếu toàn diện

Đứng nhất nhì trong danh sách những nước xuất khẩu sản phẩm dệt may lớn trên thế giới, doanh thu cao, tăng trưởng đều hàng năm, nhưng đến nay lợi nhuận thu được của ngành dệt may Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Hơn nữa, thị trường thời trang trong nước lại đang bị các sản phẩm nước ngoài lấn sân và chiếm gần hết thị phần. Hiện các thương hiệu ngoại đang chiếm lĩnh hơn 60% thị phần, từ phân khúc trung bình đến cao cấp và thu về lợi nhuận rất cao cho các nhà sản xuất nước ngoài.

DN dệt may Việt Nam chỉ dừng ở hoạt động gia công và mới khai thác được 10-20% chuỗi giá trị của sản phẩm thời trang. Những năm qua, các DN nội cũng có nhiều nỗ lực cạnh tranh với hàng ngoại để tăng thị phần trong phân khúc thời trang thông dụng. Tuy nhiên, sản phẩm còn chồng chéo, chất lượng chưa cao nên chưa tạo được niềm tin cho người tiêu dùng. Năng lực thiết kế của các công ty nội còn nhiều yếu kém, thiếu kinh nghiệm và hạn chế về lực lượng. Hơn nữa, các công ty thời trang Việt ít lựa chọn dòng sản phẩm chủ đạo mà sản xuất đại trà nên không tạo được ấn tượng mạnh.

Ông DIỆP THÀNH KIỆT,
Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thêu đan TPHCM

Theo thống kê, thị trường đang có khoảng 200 thương hiệu thời trang ngoại, phân khúc tầm trung có các thương hiệu ở khu vực châu Á như Bossini, Giordano, Mango, Nafnaf… Phân khúc cao cấp có các thương hiệu lớn có sức ảnh hưởng toàn cầu như Gucci, LV, Hugo Boss, D&G, CK, Alain Delon…

Trong khi đó, thị trường thời trang nội chỉ mới gia nhập được vào phân khúc trung bình với một vài thương hiệu như Ninomaxx, N&M, Maxx Style của Công ty Thời trang Việt, Manhattan, Việt Long của Công ty Việt Tiến, hay các thương hiệu như PT2000, Vietthy, Foci, Blue Exchange, An Phước... Mặc dù thị trường đa dạng về chủng loại và thương hiệu, song, các sản phẩm thời trang ngoại vẫn hút khách hơn so với sản phẩm nội.

Đặc biệt trong bối cảnh khó khăn hiện nay, sức tiêu thụ giảm sút, các thương hiệu thời trang ngoại nhanh chóng thực hiện giảm giá 20-30%, đã giữ chân được một lượng khách nhất định.

Trong khi đó, các cửa hàng thời trang nội dù treo bảng giảm giá sốc 50-70% vẫn vắng khách và sụt giảm doanh thu mạnh. Thậm chí, vừa qua CTCP Thời trang Việt đã thực hiện giảm giá sản phẩm tại một số cửa hàng NinoMaxx ở TPHCM đến 80% để xả hàng, rồi sau đó… đóng cửa.

Nhãn hiệu Foci cũng lao đao với hàng tồn chất đống trong kho không tiêu thụ được. Điều này cho thấy các công ty thời trang Việt đang rất khó khăn trong việc trụ lại trên thị trường. Còn với việc đưa thời trang Việt ra nước ngoài, một số DN cũng đã thử nghiệm nhưng nhanh chóng thất bại vì yếu kém trong khâu thiết kế và marketing.

Theo bà Mai Thanh Thủy, Giám đốc Điều hành Công ty Thời trang chuyên nghiệp Quốc tế, sở dĩ ngành công nghiệp thời trang của Việt Nam không thể phát triển và cạnh tranh trên thị trường quốc tế lẫn trong nước là vì các DN thiếu thông tin dự báo về xu hướng, phong cách, màu sắc… Do vậy, thời trang Việt ít có sự sáng tạo, không theo kịp xu hướng chung.

Nhiều ý kiến cho rằng, sản phẩm trong nước có quá nhiều điểm tương đồng về kiểu dáng, màu sắc, từ các cửa hàng lớn đến lề đường đều bày bán những sản phẩm có mẫu mã na ná hoặc thậm chí giống hệt nhau, chỉ khác về chất liệu vải và giá cả.

Trong khi đó, nhà sản xuất dù biết cũng đành “ngậm bồ hòn” vì một số sản phẩm của họ cũng sao chép lại. Đối với các công ty trên thế giới, để bắt kịp xu hướng thời trang chung, họ phải bỏ ra ít nhất 20.000USD/năm để mua thông tin dự báo. Tuy nhiên, DN may mặc của Việt Nam vẫn còn yếu về vốn nên chưa thể mạnh tay đầu tư vào khâu này.

Cần chuyên môn hóa

Chuyên nghiệp thời trang Việt ảnh 1
Các DN trong ngành cho biết sản phẩm thời trang luôn thay đổi theo mùa, do đó nhà sản xuất cần vốn lớn để đầu tư cho các hoạt động như cập nhật xu hướng, thay đổi mẫu mã, quảng bá mẫu mã mới, giảm giá hàng qua mùa…

Trong khi đó, nguồn vốn cho hoạt động sản xuất của DN liên tục thiếu hụt nên vốn đầu tư dành cho các khâu trên hầu như không có. Một khó khăn nữa là việc rút ngắn khoảng cách giữa thương hiệu nội và ngoại rất khó khăn.

Chẳng hạn để cạnh tranh với hàng ngoại, một nhãn hiệu áo sơ mi của Việt Nam thuê nhà thiết kế chính từ Pháp, đầu tư đến 5 tỷ đồng cho các hoạt động sản xuất, phân phối nhưng sau nhiều năm, dòng sản phẩm này vẫn không có được lượng khách như mong muốn.

Do vậy, một số nhà sản xuất phải chọn cách gắn với các nhãn hiệu ngoại để hút khách như Việt Tiến mua lại thương hiệu thời trang cao cấp Manhattan của Tập đoàn Perry Ellis International và Perry Ellis International Europe của Hoa Kỳ với mức giá 36.000USD/năm, hay An Phước gắn liền với thương hiệu Pierre Cardin (Pháp).

Theo bà Nguyễn Thị Phượng, Giám đốc DN tư nhân may mặc An Phú, để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành dệt may, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, các DN may mặc Việt Nam cũng đã nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh thông qua việc liên tục thay đổi mẫu mã, chất lượng.

Tuy nhiên, trong “cuộc chiến” này rất cần sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan nhà nước cung cấp những thông tin về thị trường, giúp DN định được hướng đi đúng.

“Muốn thay đổi vị thế của thời trang Việt Nam trên thị trường nội địa và đưa thương hiệu thời trang Việt ra thế giới, các DN cần phải có chiến lược dài hơi và chiến thuật phù hợp trong từng thời điểm.

Hiện tại, các DN cần đưa hàng sâu vào các hệ thống bán lẻ hiện đại lẫn các siêu thị chuyên ngành và tiến hành tích cóp thông tin từ nhiều nguồn để cải tiến mẫu mã, chất lượng theo nhu cầu chung. Song song đó, các DN phải chọn những hướng đi cụ thể để tiến tới chuyên môn hóa sản phẩm, tránh sự trùng lặp, gây nhàm chán cho người tiêu dùng như hiện nay” - bà Đặng Thị Phương Dung, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, nói.

Đỗ Linh

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Khó càng khó khi “thuế chồng thuế”

Khó càng khó khi “thuế chồng thuế”

(ĐTTCO) - Người dân nói chung và giới kinh doanh BĐS nói riêng khá quan tâm đến một số đề xuất của Bộ Tài chính với Chính phủ về định hướng điều chỉnh 5 chính sách thuế, trong đó có Luật Thuế giá trị gia tăng (VAT), bởi liên quan đến các hoạt động đầu tư, kinh doanh BĐS.