Chiến lược quy hoạch tiến ra biển

Nước ta có tổng diện tích đất liền 331.698km2, có quy mô dân số trên 90,5 triệu người (hạng 14 trên thế giới). Nếu chia tổng diện tích với quy mô dân số nước ta có bình quân 3.585m2/đầu người, là chỉ số rất thấp so với thế giới. Điều này cho thấy tài nguyên đất để sinh sống, sản xuất, sinh hoạt cho dân tộc ta ngày càng khan hiếm. Vì vậy, việc di dân ra vùng ven biển, ra hải đảo sinh sống là điều không tránh khỏi.

Chiến lược quy hoạch tiến ra biển ảnh 1
Việt Nam là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, có vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á và bờ biển phía Tây Thái Bình Dương có bờ biển dài 3.260km, như vậy cứ 100km2 diện tích có 1km bờ biển cao gấp 6 lần so với bình quân của thế giới là 600km2 đất liền mới có 1km bờ biển.

Có vùng biển nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần so với diện tích đất liền. Với hơn 4.000 đảo lớn, nhỏ và bãi đá ngầm, trong đó vùng biển Đông-Bắc có trên 3.000 đảo, Bắc Trung bộ có trên 40 đảo, số còn lại là vùng biển Nam Trung bộ, Tây Nam và 2 quần đảo xa bờ là Trường Sa và Hoàng Sa hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển.

Chiến lược biển Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp 2 lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước.

Theo thống kê, vùng biển Việt Nam có khoảng 2.040 loài cá với nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có 110 loài có giá trị kinh tế cao, trữ lượng cá 3-4 triệu tấn/năm. Mặc dù công tác thăm dò vẫn còn tiếp diễn, nhưng theo đánh giá có khoảng 1/2 diện tích vùng biển Việt Nam có triển vọng có dầu và khí.

Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam nước ta có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới biển Đông, dự báo 10 tỷ tấn quy dầu; trữ lượng khí đốt khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Dưới đáy biển Việt Nam còn có các khoáng sản khác như sắt, titan, cát thủy tinh, thạch anh, nhôm, măng-gan, đồng, đất hiếm; muối ăn chứa bình quân: 3.500gr/m3 nước biển. Có trên 600 loài rong biển là nguồn dược liệu phong phú và là thức ăn có nguồn dinh dưỡng cao.

Dọc bờ biển nước ta có hơn 100 địa điểm có thể xây dựng cảng, trong đó có nhiều nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển quốc tế; có nhiều đảo có tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp. Ngoài ra, biển nước ta còn có 125 bãi biển lớn, nhỏ nông thoải, nước trong và sạch, nắng ấm quanh năm, không khí trong lành với cảnh quan đẹp... là điều kiện lý tưởng để xây dựng các khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch. Điều này đặt ra bài toán cho các nhà hoạch định chính sách làm thế nào để đánh thức tiềm năng và biến kinh tế biển thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế đất nước.

Bài toán quy hoạch vùng ven biển có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược biển của nước ta không chỉ đến năm 2020 mà còn có tầm nhìn sau năm 2050. Bởi vì quy hoạch vùng ven biển là gắn với hạ tầng, phân bổ hợp lý tài nguyên đất ven biển dành cho việc phát triển các dự án dân cư, công trình công cộng; đất làm kho tàng, bến cảng, kho bãi; đất cho an ninh quốc phòng; đất rừng phòng hộ; đất sản xuất; đất cho khu du lịch nghỉ dưỡng, đất dự trữ… Điều này cần cái nhìn dài hạn và tổng thể nhằm tránh lãng phí và mang tính cục bộ của từng địa phương.

Với ngư trường rộng lớn, để ngư dân Việt Nam có thể vươn ra biển xa khai thác tài nguyên biển rất cần hậu phương vững chắc ở đất liền, là các vùng ven biển và hải đảo. Vì đây chính là nơi sinh sống của gia đình họ và cũng là nơi cung cấp hậu cần để họ có thể yên tâm bám biển dài ngày hơn.

Tuy nhiên, nước ta hàng năm có hơn 10 cơn bão nhiệt đới đổ bộ vào các tỉnh miền Trung, đặc biệt là các tỉnh duyên hải Bắc và Trung Trung bộ, mức độ khốc liệt và số lượng cơn bão được dự báo ngày càng tăng. Để chủ động ứng phó với thiên tai này, trong quy hoạch cần quan tâm nhiều hơn đến vùng ven biển, tạo điều kiện cho người dân sống trong các khu quy hoạch nhà cửa kiên cố hơn, an toàn và tiện nghi hơn.

Theo dự báo của Liên Hiệp quốc, đến năm 2025, thế giới sẽ mất đi 70 triệu ha đất canh tác do bị ngập mặn hay chìm trong nước biển. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh bởi hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu.

Do đó, những dự án chiến lược khai thác biển, biến biển cả thành nơi phát triển kinh tế và phòng thủ đang được các quốc gia và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, xây dựng.  Là một quốc gia có biển, đảo, Việt Nam cũng không nằm ngoài nguy cơ này, nên cũng cần hết sức quan tâm đến việc xây dựng chiến lược theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì vậy, việc quy hoạch phát triển tổng thể vùng ven biển cần được quan tâm, triển khai thực hiện sớm để chủ động phòng tránh các rủi ro khó lường trong tương lai gần.

------------------

Tài liệu tham khảo: Trang web của Đảng Cộng sản Việt Nam (http://dangcongsan.vn); trang web của từ điển bách khoa (http://vi.wikipedia.org); trang web của Tỉnh đoàn Bình Thuận (www.tinhdoanbinhthuan.vn/index.php?); trang web của Chính phủ (http://chinhphu.vn); trang web của Bộ Xây dựng (www.xaydung.gov.vn); trang web của Tổng cục Thống kê (www.gso.gov.vn); trang web của Bộ NN-PTNT (mard.gov.vn/);trang web của Bộ Ngoại giao (www.mofagov.vn).

TS. Nguyễn Ngọc Vinh, Trường Đại học Kinh tế TPHCM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải thi công chậm tiến độ và mới được kết nối tới chân công trình Cảng CMH. Ảnh: Minh Tuấn

Vừa thanh tra toàn diện, vừa thu hồi dự án?

(ĐTTCO) - Sau khi ĐTTC có bài phản ánh “Dự án Cảng Tổng hợp-Container Cái Mép Hạ: Nhiều dấu hiệu khuất tất”, ngày 8-12-2017, phóng viên ĐTTC đã liên hệ lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm rõ những khiếu nại của chủ đầu tư về việc tỉnh thu hồi dự án trái pháp luật và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện dự án.