Thách thức toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu

Cây lúa Việt Nam có trụ vững?

Trong 2 thập niên qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong mở rộng sản xuất lúa gạo và tăng nguồn cung lương thực (thiếu gạo từ năm 1986 về trước, sau dư thừa lương thực với số lượng 3 triệu tấn (năm 1990), 5 triệu tấn (2000) và 8 triệu tấn (2010). Việt Nam hiện nay là một nước sản xuất gạo và lương thực có mức thặng dư lớn, đang chiếm khoảng 22% lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới.

> Đồng hành cùng nông dân

Đối mặt với bất định

Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đang lo ngại về an ninh lương thực trong dài hạn khi phải đối mặt với nguy cơ biến đổi khí hậu và sự cạnh tranh ngày càng gia tăng về đất dành cho các mục đích khác như phát triển công nghiệp, đô thị.

Trong giai đoạn 2000-2005, khoảng 366.000ha đất nông nghiệp (bao gồm 302.000ha đất lúa) đã được chuyển đổi cho mục đích phi nông nghiệp. Trong thập niên hiện tại, ước tính nhu cầu chuyển đổi đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp có thể vượt quá 250.000ha.

Nhìn về tương lai, có nhiều tín hiệu ngược chiều và nhiều điều không chắc chắn về khả năng môi trường thương mại mà ngành lúa gạo Việt Nam phải đối mặt. Trong ngắn hạn, nhiều nhà phân tích cho rằng giá sẽ duy trì ở mức cao hơn so với giá trung bình trong quá khứ. Khối lượng giao dịch toàn cầu dự đoán sẽ tăng mạnh. Nhu cầu nhập khẩu từ châu Phi, châu Á tăng do biến động chính trị và thiếu hụt sản lượng vì điều kiện thời tiết bất lợi.

Theo USDA, Economic Research Service, 12-5-2011

Vì vậy, Chính phủ đã xác định chính sách bảo vệ đất lúa, bằng cách hạn chế chuyển đất nông nghiệp. Chính phủ cũng đặt mục tiêu giữ lại 3,8 triệu ha dành cho trồng lúa, có nghĩa chỉ thấp hơn 300.000ha so với diện tích trồng lúa hiện nay.

Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (NIAPP), chính quyền các tỉnh hiện nay đang đề xuất những kế hoạch sử dụng đất khác, có thể dẫn đến chỉ còn khoảng 3,63 triệu ha đất được giữ lại như đất chuyên canh cây lúa.

Khoảng 1/3 sản lượng gạo nước ta được xuất khẩu và ta có thặng dư gạo gần 6,3 triệu tấn để dành cho xuất khẩu hoặc dự trữ qua mùa sau. Cán cân lúa gạo như vậy đủ để giữ vững an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, đây thực ra là vấn đề của chính sách thương mại (hoặc nói rộng hơn là chiến lược phát triển nông thôn) chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề an ninh lương thực.

Thời gian gần đây thặng dư lúa gạo đã dẫn đến mất cân bằng cung - cầu, Chính phủ buộc phải cho vay không lãi suất để các doanh nghiệp mua gạo tồn trữ. Do đó, trong điều kiện thị trường, sản xuất dư thừa quá nhiều lại có thể trở thành nguồn gốc của rủi ro và người trực tiếp sản xuất rơi vào thế hưởng lợi ít.

Châu Phi là một trong những thị trường nhập khẩu và tiêu thụ gạo phát triển nhanh nhất. Tuy nhiên một số nước châu Phi đang đầu tư khá nhiều vào hạ tầng để thúc đẩy sản xuất gạo trong nước. Cả Philippines và Indonesia - 2 nước nhập khẩu gạo chính của Việt Nam trong những năm gần đây - cũng đang đặt mục tiêu tăng cường khả năng tự cung ứng trong những năm tới.

Campuchia và Myanmar đều có tham vọng mở rộng xuất khẩu và cạnh tranh ở thị trường gạo bình dân của Việt Nam. Còn có rất nhiều yếu tố không chắc chắn khác có thể tác động đến việc kinh doanh gạo trên thế giới và trong khu vực. Xu hướng sản xuất trong tương lai và việc thay đổi trong chính sách thương mại của các nước đối với mặt hàng gạo sẽ làm khả năng duy trì hiệu quả về lợi nhuận người trồng lúa trong nước dễ rơi vào tình hình bấp bênh hơn.

Các lựa chọn về chính sách

Đối với vấn đề an ninh lương thực quốc gia, các chính sách trong quá khứ nhắm đến tăng sản lượng và bảo vệ đất lúa khỏi bị chuyển đổi sang các mục đích sử dụng khác đã rất thành công, đạt hoặc vượt hầu hết mục tiêu chính thức.

Theo một cách nào đó, các chính sách và đầu tư có vẻ quá thành công vì sản lượng gạo của Việt Nam đã vượt xa nhu cầu trong nước và phần lớn gạo dư thừa đã được xuất khẩu ra nước ngoài. Vấn đề đặt ra là liệu Việt Nam có đủ gạo để nuôi toàn bộ dân số đang tăng trưởng trong tương lai? Đây là lĩnh vực các nhà hoạch định chính sách rất quan tâm, dù nước ta đã rất thành công trong việc thực hiện mục tiêu này, khi đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình.

Cây lúa Việt Nam có trụ vững? ảnh 1

Lợi nhuận của nông dân trồng lúa dễ rơi vào tình cảnh bấp bênh.

Những mô hình luân canh lúa-cá hoặc lúa-tôm được phát triển trong thập niên qua đã chứng tỏ hiệu quả cao. Chính phủ nên khuyến khích mạnh mẽ những hệ thống sản xuất này vì nó tạo ra lợi nhuận cao hơn cho nông dân, đồng thời giúp quản lý hiệu quả các vấn đề môi trường, sâu hại và dịch bệnh.

Ở những vùng thường xuyên bị xâm mặn, thay vì dựng các cấu trúc đắt tiền để chống lại tự nhiên, cách tiếp cận chính sách có thể là hỗ trợ nông dân chuyển dịch từ canh tác lúa sang nuôi tôm nước lợ hoặc chuyển đổi sang các loại cây trồng có khả năng chịu nước mặn tốt hơn. Nông dân nên tự lựa chọn loại cây trồng thích hợp dựa trên khả năng tài chính, tay nghề và những cân nhắc khác.

Vì thế cần cải thiện chuỗi giá trị lúa gạo để “đền đáp” cho người nông dân vẫn trung thành với sản xuất gạo. Nông dân Việt Nam qua các thời kỳ đều chứng tỏ khả năng và sự sẵn sàng phản ứng với những điều kiện thị trường thuận lợi. Gần đây, sau đợt tăng giá thực phẩm đột ngột năm 2008, nông dân nước ta đã tăng đáng kể gieo trồng lúa, đảo ngược xu hướng kéo dài cả thập niên liên tục giảm canh tác lúa.

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Nước ta sẽ chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nặng nề và điều này sẽ gây ra hàng loạt hậu quả phức tạp. Thời tiết của quốc gia đã có thay đổi. Theo Bộ Tài nguyên-Môi trường, trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở nước ta đã tăng 0,5-0,7oC, với mức tăng ở miền Bắc rõ rệt hơn ở miền Nam.

Trong cùng giai đoạn này, lượng mưa hàng năm đã giảm nhẹ ở miền Bắc và tăng nhẹ ở miền Nam. Phù hợp với khuôn mẫu toàn cầu, mực nước biển dâng cao ở Việt Nam có mức trung bình 3mm/năm trong 15 năm qua.

Sản xuất lúa gạo đang đối diện với mức độ không chắc chắn rất cao về việc các kịch bản sẽ diễn ra do tác động biến đổi khí hậu. Để hạn chế bất lợi rất cần các biện pháp thích ứng để nông dân, cộng đồng và các nhà quản lý áp dụng. Với mức độ không chắc chắn này, phương hướng hành động tốt nhất là tập trung nỗ lực trong ngắn hạn vào những loại biện pháp “không hối tiếc” - nghĩa là những biện pháp có tác động hiệu quả và giúp giảm rủi ro sản xuất bất chấp sự biến đổi khí hậu sẽ như thế nào.

Ông STEVE JAFFEE,
Ngân hàng Thế giới

Trong sản xuất gạo, những tác động có thể xảy ra của biến đổi khí hậu rất đa dạng. Những tác động này có thể bao gồm thay đổi về mức trung bình năm và phân phối theo mùa của nhiệt độ và lượng mưa, thay đổi của các sự kiện thời tiết cực đoan; thay đổi do bùng phát các loại sâu hại và dịch bệnh; thay đổi về xâm mặn và tác động rộng hơn đối với hệ thống sông ngòi, lũ lụt. Vì vậy sản xuất nông nghiệp dựa vào thủy lợi và mưa đều bị ảnh hưởng.

Thí dụ về những loại biện pháp “không hối tiếc” bao gồm phục hồi, cải thiện cơ sở hạ tầng nguồn nước hiện có, đầu tư vào nghiên cứu giống và nông học, tăng cường nhận thức của nông dân và ứng dụng thực hành quản lý rủi ro.

Một loạt biện pháp sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu nên được thực hiện, bao gồm quản lý nguồn nước, thay đổi công nghệ, điều chỉnh thói quen trồng trọt, chuyển đổi mô hình sử dụng đất và nước. Nông nghiệp ở ĐBSCL đã có thể - và đã có kết quả đặc biệt tốt - trong một giai đoạn dài do thích ứng liên tục. Không thể vì lý do nào đó lại để vựa lúa quốc gia đột nhiên tụt hậu.

Rủi ro đối với người nông dân có thể tăng lên đáng kể do biến đổi khí hậu. Nhưng điều này sẽ đòi hỏi việc sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng và linh hoạt hơn, để phát triển và mở rộng sử dụng giống lúa có thể chịu đựng được cả độ mặn và ngập lũ, tiến đến sản xuất lúa gạo theo hướng bền vững.

T.PHƯƠNG - T.DUY

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

(ĐTTCO) - Mới đây, trong văn bản cho ý kiến về dự án BT (đổi đất lấy hạ tầng) đại lộ ven sông Sài Gòn, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT), cho rằng TPHCM cần yêu cầu Tập đoàn Tuần Châu bổ sung các nội dung còn thiếu, như chứng minh năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự cho phù hợp quy định.