Cải cách hệ thống tài chính: Yêu cầu bức thiết, cấp bách

Trải qua các cuộc khủng hoảng tài chính trong 2 thập niên gần đây, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, các nước trên thế giới đã tiến hành cải cách tài chính sâu rộng, nâng cao chuẩn mực an toàn tài chính, đổi mới thể chế giám sát tài chính. Đây là việc nước ta phải nhanh chóng thực hiện nhằm mục tiêu ổn định tài chính và phát triển bền vững.

Thị trường tài chính Việt Nam

Cho đến trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, hệ thống tài chính Việt Nam phát triển nhanh chóng, đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, song hành là nhiều rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính. Khi kinh tế vĩ mô bất ổn, hệ thống tài chính đã bộc lộ rủi ro, yếu kém như chất lượng tài sản giảm sút nghiêm trọng, nợ xấu và tài sản xấu tăng mạnh, mất niềm tin giữa các định chế tài chính và với doanh nghiệp.

Tình trạng căng thẳng thanh khoản của không ít tổ chức tín dụng (TCTD) dẫn đến những bất ổn hệ thống, tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Có thể tóm lược một số nguyên nhân chủ yếu của những bất ổn trên thị trường tài chính Việt Nam như sau:

Tiến độ xử lý tồn tại trong hệ thống tài chính Việt Nam như xử lý nợ xấu, tài sản xấu, tái cơ cấu các định chế tài chính yếu kém còn chậm so với yêu cầu thực tiễn. Các cải cách tài chính tập trung chủ yếu vào các vấn đề mang tính ngắn hạn; những cải cách cơ cấu có tính dài hạn chưa được nhận dạng đầy đủ và sự quan tâm đúng mức, nên thị trường tài chính Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tụt hậu hơn nữa so với quốc tế về nền tảng tài chính căn bản, vững mạnh.

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên việc mở rộng đầu tư dẫn tới nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế rất lớn. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ mở rộng trong một thời gian dài, cung tiền và tăng trưởng tín dụng hàng năm ở mức rất cao, với tốc độ trên dưới 30%/năm trong giai đoạn 2005-2010, thậm chí có năm tăng trưởng tín dụng và cung tiền trên 40%.

Chính sách tài khóa cũng đồng thời được nới lỏng với tăng cường chi tiêu công và đầu tư công, thâm hụt ngân sách ở mức khá cao trong thời gian dài. Bình quân thâm hụt ngân sách giai đoạn 2001-2010 ở mức 5,2% và giai đoạn 2005-2010 ở mức 5,5%.

Hệ quả là hình thành bong bóng tài sản, đặc biệt là giá cả bất động sản và chứng khoán tăng trưởng nóng; hiệu ứng thuận chu kỳ phát huy tác dụng, làm trầm trọng hơn sự bất ổn và mất cân đối trong nền kinh tế.

Thứ hai, quy chuẩn an toàn đã bỏ ngỏ với hiện tượng TCTD sử dụng vốn vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng để đầu tư, cho vay các doanh nghiệp trong nền kinh tế; tỷ lệ tiền gửi và vay trên thị trường liên ngân hàng chiếm tới 22,2% tổng tài sản (2011), tại một số TCTD tỷ lệ này trên 40%.

Điều kiện cho vay dễ dãi tạo điều kiện đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán; điều kiện tăng vốn thiếu chặt chẽ tạo điều kiện cho hiện tượng sở hữu chéo, góp vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng với các định chế tài chính phi ngân hàng, giữa ngân hàng với các doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến. Đầu tư chéo và rủi ro chéo trong hệ thống tài chính cũng vì thế phát triển ngoài mức kiểm soát.

Thứ ba, nền kinh tế Việt Nam rất lệ thuộc hệ thống TCTD, các doanh nghiệp chủ yếu hoạt động bằng vốn vay ngân hàng; dư nợ cho vay của hệ thống TCTD tương đương 97,86% GDP (2011) và 115,7% GDP (2012). Hệ thống TCTD mất cân đối nguồn và sử dụng nguồn vốn với tỷ lệ cho vay/huy động ở mức cao. Thực tế thị trường vốn nước ta còn hết sức nhỏ hẹp, chậm phát triển; mức vốn hóa thị trường chỉ chiếm 21,3% GDP (2011) và 30,4% GDP (2012), thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển, quy mô còn quá nhỏ bé. Trong khi đó, điều kiện cấp phép dễ dàng và định hướng phát triển hệ thống tài chính chưa phù hợp đã mở đường cho các TCTD phát triển mạng lưới nhanh chóng, đồng loạt chuyển đổi hoạt động, thành lập mới ồ ạt công ty chứng khoán, quản lý quỹ, dẫn đến việc mất kiểm soát.

Yếu kém giám sát tài chính

Các cơ quan giám sát chuyên ngành tập trung vào giám sát vi mô từng định chế tài chính trong thẩm quyền giám sát mà chưa quan tâm đúng mức đến giám sát rủi ro hệ thống, rủi ro của các định chế tài chính lớn ảnh hưởng hệ thống. Trong thực tế, đã hình thành không ít các tập đoàn tài chính ngân hàng và tập đoàn tài chính phi ngân hàng hoạt động đa ngành, phát sinh nhiều giao dịch rất phức tạp.

Phương thức giám sát còn nhiều bất cập, thiên về giám sát tuân thủ mà chưa chú trọng đúng mức giám sát trên cơ sở rủi ro. Ngoài ra, quyền hạn của các cơ quan giám sát còn nhiều hạn chế, nhất là thẩm quyền tiếp cận thông tin và chế tài xử lý vi phạm và giám sát an toàn.

Giám sát cẩn trọng vĩ mô thị trường tài chính chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy, hiện tượng thị trường tín dụng tăng trưởng nóng trong một thời gian dài, tất yếu sẽ gây ra những mất cân đối về thanh khoản và tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu đã không được quan tâm, xử lý từ sớm thông qua các công cụ và chính sách cẩn trọng vĩ mô.

Yếu tố cẩn trọng cũng không thể hiện rõ khi hàng loạt ngân hàng, công ty chứng khoán, quản lý quỹ được cấp phép và nâng cấp phạm vi hoạt động trong thời gian ngắn mà không tính đến những tác động tiềm tàng đến thị trường tài chính. Sự thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách cẩn trọng vĩ mô đã khiến hệ thống tài chính thêm mất cân đối và dễ dàng rơi vào bất ổn trước bất kỳ xáo động hay cú sốc từ kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước.

Cải cách hệ thống tài chính: Yêu cầu bức thiết, cấp bách ảnh 1

Nền kinh tế nước ta và các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào ngân hàng. Ảnh: LONG THANH

Năng lực quản trị điều hành và quản trị rủi ro yếu kém không theo kịp nhịp độ và quy mô phát triển, dẫn tới nhiều yếu kém, bất cập trong hoạt động.

Nhiều TCTD chưa xây dựng hoặc chưa thực hiện tốt hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa được phát huy hiệu quả; quy trình nghiệp vụ được ban hành nhưng tuân thủ còn hạn chế. Hiện tượng cấp tín dụng, đầu tư vốn đối với các doanh nghiệp sân sau, các doanh nghiệp có liên quan cổ đông lớn tại các TCTD diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau.

Chuẩn mực kế toán không đáp ứng yêu cầu, còn xa so với chuẩn mực quốc tế, tạo kẽ hở để một số tổ chức lợi dụng hạch toán sai bản chất giao dịch. Chẳng hạn, một số định chế tài chính đã cấp tín dụng dưới các hình thức khác nhau và hạch toán ở các hạng mục khác nhau như "tài sản có khác, phải thu khác, ủy thác đầu tư...". 

Các hành vi này không dễ để các cơ quan thanh tra giám sát phát hiện, nhất là khi nó được thực hiện thông qua một trung gian khác trước khi tiền đến tay địa chỉ cuối cùng là “khách hàng”.

Từ năm 2008 trở lại đây, cải cách tài chính của Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, những cải cách đó còn chậm, phạm vi và độ sâu cũng như tiến độ chưa đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tài chính, còn khoảng cách khá xa so về chuẩn mực an toàn và thể chế giám sát trên toàn thế giới.

Nhiều giao dịch tài chính, đặc biệt là giao dịch ngân hàng ngầm, chưa được định nghĩa đầy đủ và đưa vào diện kiểm soát, trong khi các quốc gia khác đã nhận thức rõ và tập trung quản lý, giám sát nhằm giới hạn rủi ro và tăng cường tính minh bạch. Việt Nam cũng chưa xây dựng tiêu chí và chuẩn mực để định dạng rủi ro hệ thống; chưa có tiêu chí xác định các định chế có rủi ro hệ thống (SIFIs); chưa ban hành và áp dụng các biện pháp giám sát và chuẩn mực an toàn bổ sung với các nhóm định chế này.

Gấp rút cải cách thể chế

Chiến lược phát triển hệ thống tài chính Việt Nam cần được định hình rõ hơn, trên cơ sở đó xây dựng một chương trình hành động cụ thể với lộ trình cụ thể. Theo tôi, cần làm rõ về chiến lược phát triển hệ thống tài chính: Thứ nhất, Có nên giữ quan điểm không để các định chế tài chính, đặc biệt là TCTD, phá sản?

Cải cách thể chế phải luôn được coi là một trong những thành tố cơ bản của chương trình cải cách tài chính. Trên thế giới, hiện có một số kiến trúc giám sát như giám sát hợp nhất, giám sát theo chuyên ngành, giám sát lưỡng đỉnh, giám sát theo định chế và mỗi mô hình đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng. Lựa chọn mô hình nào còn tùy thuộc đặc điểm riêng của từng quốc gia và mỗi quốc gia đều xây dựng cơ chế riêng để hạn chế nhược điểm và phát huy ưu điểm mô hình của mình.

Nếu cho phép các định chế tài chính giải thể phá sản, cần thiết lập cơ chế xử lý các định chế tài chính phá sản theo trình tự nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính. Thứ hai, định dạng rõ hơn cấu trúc thị trường tài chính trong tương lai.

Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống giải pháp cụ thể phát triển thị trường vốn, nhằm giảm áp lực và gánh nặng cho thị trường ngân hàng và cân bằng cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng vốn của hệ thống tài chính.

Hiện nay, NHNN thực hiện giám sát lĩnh vực ngân hàng; UBCKNN (Bộ Tài chính) chịu trách nhiệm giám sát thị trường chứng khoán, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư; Cục Quản lý giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) chịu trách nhiệm giám sát các công ty bảo hiểm.

Cấu trúc này còn để hở nhiều khoảng trống giám sát, đặc biệt trong bối cảnh ngày càng nhiều định chế tài chính hoạt động đa ngành và các sản phẩm tài chính ngày một phức tạp. Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia được giao nhiệm vụ giám sát xuyên suốt cả 3 lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm mới được thành lập và hoạt động với vai trò tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ.

Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giám sát trong nước còn rất lỏng lẻo, việc trao đổi thông tin giữa các bên còn nhiều hạn chế, một số khoảng trống giám sát đã được nhắc tới nhưng chuyển biến thành hành động cụ thể còn chậm và hiệu quả chưa cao. Do đó, Việt Nam cần định dạng hệ thống giám sát rõ ràng để có biện pháp phát huy tối đa giám sát tài chính hữu hiệu.

TS. VŨ VIẾT NGOẠN, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Khó càng khó khi “thuế chồng thuế”

Khó càng khó khi “thuế chồng thuế”

(ĐTTCO) - Người dân nói chung và giới kinh doanh BĐS nói riêng khá quan tâm đến một số đề xuất của Bộ Tài chính với Chính phủ về định hướng điều chỉnh 5 chính sách thuế, trong đó có Luật Thuế giá trị gia tăng (VAT), bởi liên quan đến các hoạt động đầu tư, kinh doanh BĐS.