ĐÒI TĂNG GIÁ ĐIỆN DO LỖ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ

Các doanh nghiệp không sòng phẳng

Đại diện của các Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đều cho rằng chênh lệch tỷ giá đang ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Cụ thể 3 tập đoàn lớn này đã đồng loạt kêu lỗ hàng ngàn tỷ đồng do điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian qua và đề nghị tính vào giá thành điện.

Trao đổi với ĐTTC về vấn đề này, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho rằng đề nghị này của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là không sòng phẳng, và nếu thông qua sẽ không chỉ tạo tâm lý ỷ lại nhiều hơn cho DNNN mà còn gây mất niềm tin của người dân vào những cải cách của Chính phủ, chưa kể những tác động của nó đến đời sống của người dân.

Sai nguyên tắc chế độ kế toán

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, xuất phát từ cơ chế nào mà các tập đoàn lại đưa ra đề nghị này? Đề nghị trên có hợp lý hay không?

Ông ĐỖ THIÊN ANH TUẤN: - Theo chuẩn mực và chế độ kế toán DN hiện hành, khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá hối đoái sẽ được đưa vào chi phí tài chính chứ không thể đưa vào giá thành sản phẩm như đề xuất của các DN. Nếu khoản chênh lệch này nhỏ sẽ được đưa trực tiếp vào chi phí tài chính, còn nếu khoản chênh lệch đó quá lớn có thể phân bổ dần trong một số năm, tối đa là 5 năm. Các DN sử dụng tài khoản 242 gọi là chi phí trả trước dài hạn và sau đó phân bổ vào chi phí tài chính trong một số năm.

Trong một thị trường cạnh tranh, các DN cần phải được đối xử công bằng và phải đối diện với quy luật lời ăn lỗ chịu, chứ không thể cứ mãi dựa dẫm vào sự bảo hộ và “bao cấp thua lỗ” của Nhà nước mãi như thế. Nếu được áp đặt các điều kiện thị trường, các DNNN này lẽ ra đã phải có dự phòng rủi ro cho sự  biến động tỷ giá hoặc sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa những rủi ro đó chứ không phải bị động trông chờ hay ỷ lại vào Nhà nước như thế.

Khi đưa vào chi phí tài chính sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của DN và có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ. Tuy nhiên, việc đề nghị đưa khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá vào giá thành sản phẩm như ngành điện đề nghị chẳng hạn là không đúng xét theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành áp dụng cho DN nói chung. Tất nhiên vẫn có những cơ chế tài chính và chế độ kế toán riêng để các DN này làm điều đó, song như vậy sẽ là thiếu minh bạch và không công bằng với các DN khác, đặc biệt là các DN tư nhân.

- Nếu đề xuất hạch toán vào giá thành điện được Bộ Tài chính thông qua liệu có tạo tiền lệ cho các DNNN khi không định hướng được kế hoạch rủi ro trong kinh doanh cũng như tầm nhìn dài hạn cứ lỗ là đòi ưu ái? Và như vậy có bất công cho DN tư nhân không thưa ông?

- Nếu đề nghị của các tập đoàn được Bộ Tài chính, Bộ Công Thương đưa ra hướng dẫn áp dụng một chuẩn mực kế toán riêng để hạch toán những khoản lỗ này vào giá thành, sẽ tạo ra môi trường không bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Vấn đề nghiêm trọng hơn là sẽ tạo ra một tâm lý ỷ lại (moral hazard) cực kỳ tai hại. Một khi các DNNN đẩy khoản lỗ đó vào giá thành có nghĩa là người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu. Trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh không thể xảy ra tình trạng như vậy, thay vào đó chỉ có độc quyền mới luôn nảy sinh suy nghĩ đẩy thua lỗ sang cho người tiêu dùng gánh chịu.

Thử hỏi, trong cùng một bối cảnh vĩ mô chung, cùng đối diện với những biến động rủi ro tỷ giá như nhau trong thời gian qua, các DN tư nhân cũng chịu tác động nhưng họ biết ta thán với ai. Nếu như tâm lý ỷ lại nay đã ăn sâu vào giới lãnh đạo của các DNNN, chính cách điều hành nền kinh tế vĩ mô của chúng ta như hiện nay cũng góp phần tạo nên tâm lý ỷ lại đó trong các DNNN.

Năng lực quản trị kém

- Ông vừa nói đến công cụ bảo hiểm tỷ giá. Theo ông DNNN hiện nay có sử dụng hay không?

- Nhiều DNNN lớn họ không sử dụng các công cụ đó, vì họ mặc nhiên rằng Chính phủ hay NHNN bằng các cam kết điều hành tỷ giá của mình, đã bảo hiểm rủi ro cho họ rồi. Từ những cam kết tỷ giá của NHNN, các DNNN mặc định rằng NHNN phải có nghĩa vụ ổn định tỷ giá cho họ mà một khi NHNN không đảm bảo được cam kết đó lỗi thuộc về NHNN chứ không phải do họ.

Đây cũng chính là rào cản khiến NHNN cực kỳ khó khăn mỗi khi quyết định điều chỉnh tỷ giá. Một số phê phán chính sách điều hành tỷ giá của NHNN có phần cứng nhắc, nhưng phải hiểu NHNN cũng rất khó khăn bởi trở lực rất lớn trước sức ép của các con nợ Nhà nước.

Phải nói rằng việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua của NHNN cũng chỉ là đưa về trạng thái mà đáng lẽ mặt bằng giá trong nước đã ở đó, chứ không phải mặt bằng giá thấp giả tạo khi định giá đồng tiền quá cao như trước đây. Chỉ như vậy mới tạo ra mặt bằng giá cạnh tranh với nhà nhập khẩu.

- Theo đại diện của các tập đoàn, khi giá USD tăng dẫn đến nghĩa vụ trả nợ tăng, đồng nghĩa với chi phí tăng. Nhưng nếu giá bán không tăng hiệu quả DN giảm, thậm chí lỗ. Trong khi đó các chuyên gia kinh tế cho rằng các DN này đã được hưởng chênh lệch lãi suất vay USD và VNĐ được tính vào lợi nhuận trong nhiều năm qua. Ý kiến của ông như thế nào về vấn đề này?

- Họ vay tiền đồng lãi suất là mười mấy % mỗi năm, vay ngoại tệ từ 5-6%/năm. Như vậy nếu thị trường hoàn hảo và hiệu ứng Fisher quốc tế là đúng, thì nếu được lợi bao nhiêu trên thị trường tiền tệ sẽ mất bấy nhiêu trên thị trường ngoại tệ.

Tức là nếu vay USD trên thị trường tiền tệ chỉ trả 5%/năm trong khi vay tiền đồng là 10%/năm, có nghĩa DN được lợi 5% trên thị trường tiền tệ do chênh lệch lãi suất. Lúc đó DN sẽ phải bị thiệt tương ứng 5% trên thị trường ngoại tệ do sự biến động tỷ giá.

Như vậy khi DN vay USD lãi suất 5%, họ đã được hưởng lợi so với vay VNĐ nhưng vẫn muốn NHNN không điều chỉnh tỷ giá để không bị thiệt trên thị trường ngoại tệ. Như vậy là không sòng phẳng. Hãy hỏi khi DN hưởng lợi do vay USD lãi suất thấp sao không giảm giá thành xuống, nhưng đến khi tỷ giá điều chỉnh tăng lại đề nghị tính vào giá thành? Rõ ràng, việc tăng giá thành này là do năng lực quản trị DN kém chứ không phải do chính sách điều chỉnh tỷ giá vừa qua của NHNN. Tại sao người dân phải trả thêm tiền cho sự yếu kém của DN?

Tạo động lực cho nền sản xuất nội địa

- Thưa ông, rủi ro tỷ giá ảnh hưởng như thế nào đến DN và các DN có nên quá lo lắng hay không?

- DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm gần 70% giá trị xuất khẩu của nước ta hầu như không tác động nhiều bởi điều chỉnh tỷ giá của NHNN, vì tiền thu về từ xuất khẩu sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính tại Việt Nam (nếu có), họ sẽ chuyển lợi nhuận còn lại về quốc gia của mình bằng USD. Trong khi đó DN xuất khẩu nội địa có thể được hưởng lợi chỉ chiếm khoảng 30% còn lại. Xét về nhóm DN xuất khẩu và sản xuất trong nước, DN xuất khẩu được lợi hoặc ít nhất là không phải chịu thiệt thòi về mặt cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Với DN nhập khẩu và tự sản xuất trong nước bị ảnh hưởng nặng nhưng cần xem xét ở khía cạnh khác. Bây giờ nhập khẩu đắt đỏ nhưng chính điều này mới tạo động cơ cho việc nuôi dưỡng một nền sản xuất nội địa vì khi đó hàng tự sản xuất trong nước mới có thể cạnh tranh với hàng nhập. Nếu vẫn cứ than vãn nhập khẩu bây giờ trở nên đắt đỏ hơn thì đến khi nào Việt Nam mới gầy dựng được nền sản xuất nội địa để thay dần hàng nhập khẩu.

Hiện nay chúng ta than vãn việc nền kinh tế nhập khẩu quá nhiều, từ hàng tiêu dùng cho đến nguyên vật liệu cho sản xuất, là do hệ quả của hàng chục năm trước đây chúng ta đã chẳng tạo điều kiện nuôi dưỡng và nâng đỡ nền sản xuất nội địa đó sao. Nên nếu bây giờ vẫn cứ bài toán tỷ giá như hiện nay thì 5 hay 10 năm nữa, tình cảnh nhập siêu như bây giờ sẽ thêm bi đát hơn.

Các doanh nghiệp không sòng phẳng ảnh 1

Người dân sẽ phản ứng nếu giá điện tăng do ngành điện lỗ vì tỷ giá.

- Ông đánh giá như thế nào về chính sách điều hành tỷ giá của NHNN trong thời gian qua? Liệu áp lực điều chỉnh tỷ giá có còn trong thời gian tới?

- Sau động thái phá giá đợt đầu đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, NHNN chỉ điều chỉnh biên độ tỷ giá chứ không điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng. Động thái này theo tôi là thiếu sự quyết đoán.  Tuy nhiên lần điều chỉnh tiếp sau đó của NHNN, cả biên độ và tỷ giá liên ngân hàng, theo tôi là động thái khá dứt khoát.

Tôi hiểu NHNN cũng muốn điều chỉnh nhưng họ gặp nhiều rào cản như đã nói. Rõ ràng không ai nghĩ động thái phá giá của Trung Quốc là tốt cho chúng ta, nhưng nhìn ở một khía cạnh nào đó lại là một “cứu cánh” cho bài toán tỷ giá của Việt Nam, nó trở thành cái cớ hợp lý do việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN mà đáng lẽ đã hết dư địa điều chỉnh theo cam kết của NHNN từ đầu năm.

Từ nay đến cuối năm, với tình trạng kinh tế hiện nay của Trung Quốc cũng như khả năng nâng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ, khả năng Trung Quốc lại tiếp tục điều chỉnh tỷ giá là rất có thể. Theo đó thị trường ngoại hối trong nước những tháng cuối năm khả năng sẽ còn có một số đợt biến động khác.

Nếu Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá một lần nữa thì Việt Nam lại phải đặt vào tình thế phải điều chỉnh. Câu hỏi dành cho NHNN là có nên tiếp tục “theo đuôi” Trung Quốc trong chính sách tỷ giá nữa không hay nên có một chính sách tỷ giá chủ động và linh hoạt hơn trong thời gian tới?

- Xin cảm ơn ông.

Xuân Anh (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

(ĐTTCO) - Mới đây, trong văn bản cho ý kiến về dự án BT (đổi đất lấy hạ tầng) đại lộ ven sông Sài Gòn, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT), cho rằng TPHCM cần yêu cầu Tập đoàn Tuần Châu bổ sung các nội dung còn thiếu, như chứng minh năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự cho phù hợp quy định.