Ưu đãi công nghiệp hỗ trợ chưa phát huy hiệu quả

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được coi là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Nhưng 5 năm qua kể từ khi quyết định chính sách đầu tiên về CNHT được ban hành (12/2011/Q Đ - TTg) các bộ, ngành liên quan vẫn chưa thể hoàn tất dự thảo nghị định về phát triển CNHT. ĐTTC đã trao đổi với TS. NGUYỄN THỊ TUỆ ANH, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), xung quanh vấn đề này.

PHÓNG VIÊN: - Bà đánh giá thế nào về sự tham gia chuỗi cung ứng sản xuất của doanh nghiệp (DN) Việt Nam hiện nay?

 Ưu đãi công nghiệp hỗ trợ chưa phát huy hiệu quả ảnh 1

Bà NGUYỄN THỊ TUỆ ANH: - Hiện các DN nội địa làm CNHT chưa tham gia sâu được vào chuỗi sản xuất cung ứng hàng hóa toàn cầu của các tập đoàn sản xuất đa quốc gia. Nhiều tập đoàn điện tử lớn đã đầu tư vào Việt Nam như Samsung, Intel, Canon, Microsoft, nhưng không nhiều DN làm CNHT tham gia được vào chuỗi cung ứng sản xuất của họ.

Bởi muốn tham gia, DN phải được đối tác lựa chọn và phải đáp ứng các tiêu chí khắt khe về chất lượng của nhà sản xuất; phải cạnh tranh với các đối tác nước ngoài đã từng cung ứng linh, phụ kiện cho các tập đoàn này.

Đơn cử trường hợp của Samsung Electronics Việt Nam (SEV), trong số 60 nhà cung ứng linh kiện hiện tại cho SEV năm 2014, có 45 nhà cung cấp của Hàn Quốc, 5 của Việt Nam và 10 từ các quốc gia khác. Trong lĩnh vực điện tử, có rất ít DN nội cung cấp được linh kiện và dịch vụ cho các DN FDI tại Việt Nam.

- Việt Nam và Nhật Bản đang hợp tác để hỗ trợ phát triển 6 ngành CNHT tại Việt Nam. Cụ thể, các lĩnh vực 2 nước hướng tới trong phát triển CNHT và những hỗ trợ Nhật Bản dành cho Việt Nam là gì, thưa bà?

- Trong khuôn khổ hợp tác, 2 bên đã xác định được 6 ngành CNHT Việt Nam ưu tiên phát triển là điện tử, ô tô, máy nông nghiệp, chế biến nông thủy sản, đóng tàu, môi trường và tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên đến nay mới xây dựng được kế hoạch hành động cụ thể cho 5 ngành, riêng ngành công nghiệp sản xuất ô tô và phụ tùng đang được Bộ Công Thương xây dựng kế hoạch hành động.

Chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản, đối tượng hướng đến cuối cùng là DN. Theo đó 2 bên đưa ra những lĩnh vực ưu tiên phát triển với các chính sách hỗ trợ sản phẩm cụ thể trong từng ngành. Thời gian qua Nhật Bản đã cử các chuyên gia sang Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao.

Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ tăng cường thu hút đầu tư của Nhật Bản vào 6 lĩnh vực ưu tiên nhằm tạo sự gắn kết giữa DN 2 nước, từ đó DN Việt Nam có thể biết được nhu cầu linh, phụ kiện của các DN Nhật Bản và ngược lại. Trong phát triển CNHT, cũng không nên quá kỳ vọng phải làm tất cả lĩnh vực. Với tiềm lực các DN nội địa hiện nay, nếu phát triển được CNHT trong lĩnh vực điện, điện tử để cung ứng linh phụ kiện cho Samsung, Intel, Microsoft hay Canon cũng đã là thành công.

Chế biến nông, thủy sản cũng là lĩnh vực DN 2 nước đang tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ. Vấn đề hiện nay là sản phẩm nông sản của Việt Nam chưa tiếp xúc được với thị trường bên ngoài khi sản phẩm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế. Đấy là lý do Việt Nam xuất khẩu nhiều sản phẩm sơ chế có giá trị gia tăng thấp. Chế biến nông thủy sản đang là điểm yếu trong chuỗi giá trị sản xuất nông sản của Việt Nam, trong khi Nhật Bản là một quốc gia rất mạnh về lĩnh vực này.

Tôi đặt nhiều kỳ vọng vào sự hợp tác giữa DN 2 nước thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch, an toàn vệ sinh thực phẩm, chế biến sản phụ gia theo chuẩn mực quốc tế, giúp mang lại thay đổi căn bản trong chuỗi sản xuất và cung ứng sản phẩm nông, thủy sản Việt Nam.

- Để phát triển CNHT trong nước, theo bà có cần thay đổi trong chính sách ưu đãi với phát triển CNHT?

CNHT Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà sản xuất gốc. Thí dụ, giá trị gia tăng nội địa của công nghiệp điện tử Việt Nam vẫn thấp khi so sánh với các nước khác. Bên cạnh đó, DN trong nước hầu như chưa có kinh nghiệm cung ứng cho các nhà sản xuất lớn, chưa có hệ thống tiếp thị khách hàng, thiếu vốn và yếu về công nghệ. Con số xuất khẩu ngành điện tử năm 2014 đạt 35 tỷ USD, nhưng nhập khẩu lên đến 28,2 tỷ USD đã nói lên tất cả.

- Hiện có nhiều ưu đãi về đất đai, ưu đãi thuế, ưu đãi đặc biệt dành cho các DN phát triển CNHT, như được miễn thuế nhập khẩu 5 năm đối với sản phẩm CNHT cho các dự án thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đặc biệt; miễn thuế cho các vật tư, thiết bị nhập khẩu để sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm; miễn thuế thu nhập DN; miễn giảm tiền sử dụng đất.

Tuy nhiên không thể làm chung chung, cần đi vào những ngành cụ thể. Trong 6 ngành CNHT ưu tiên nêu trên, mỗi ngành có một kế hoạch hành động riêng và có những ưu tiên cụ thể cho mỗi ngành. Chẳng hạn với công nghiệp sản xuất ô tô và phụ tùng, các bộ đang đề xuất bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô vì thực chất thuế này đánh vào người tiêu dùng cuối cùng.

Hiện có trên 10 chương trình hỗ trợ DN trong nước. Có lẽ cần rà soát để đánh giá tổng thể lại các chương trình ưu đãi cho DN nội địa hiện nay. Bất cập ở chỗ, không đủ lực để hỗ trợ tất cả. Vì thế, để phát huy tối đa hiệu quả, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ chỉ nên dành cho những nhóm nhỏ DN, với những ngành nghề cụ thể mới tạo ra động lực lớn, sự vượt trội để phát triển.

- Xin cảm ơn bà.

Đăng Tuân (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Giảm thiểu rủi ro hệ thống ngân hàng

(ĐTTCO) - Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD cần phải sửa đổi một số vấn đề liên quan đến kiểm soát quản lý tín dụng, nợ các tổ chức cá nhân… nhằm làm cho hệ thống tài chính trở nên lành mạnh và an toàn hơn. 

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.