Tìm động lực tăng trưởng kinh tế

 Hôm nay 19-4, Đề án Tái cơ cấu nền kinh tế được trình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội lấy ý kiến. Đề án sẽ trình bày những thành tựu và yếu kém chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua. Vậy đâu là giải pháp để đưa thành tựu này tiến nhanh và sớm khắc phục yếu kém?

Đâu là dòng vốn tạo ra tăng trưởng?

Tìm động lực tăng trưởng kinh tế ảnh 1

Yếu kém đầu tiên được chỉ ra trong đề án là “tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục thiên về chiều rộng, dựa chủ yếu vào sự gia tăng số lượng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên…”. Nghĩa là, tái cấu trúc nền kinh tế sẽ đưa ra những giải pháp để khắc phục điểm yếu này.

Thực ra dòng vốn đầu tư đến từ chi tiêu công, đầu tư khu vực tư nhân (dựa vào vốn tín dụng ngân hàng là chủ yếu), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những nguồn vốn chủ yếu tạo ra sự tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng thời gian qua. Việc đầu tư công đã đưa tỷ lệ nợ quốc gia đang gia tăng và chạm đến ngưỡng nợ mà chuẩn mực quốc tế đã đề cập.

Chính vì vậy, giải pháp cho chính sách tài khóa thời gian tới sẽ giảm bội chi ngân sách về mức 3-3,5% theo đề án; quản lý nợ công phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế trong 5-10 năm tới của nền kinh tế Việt Nam không còn dựa vào nguồn vốn ngân sách đầu tư.

Về dòng vốn đầu tư tư nhân, thời gian qua dòng vốn này liên tục gia tăng và đẩy dòng vốn tín dụng cũng tăng trưởng khá mạnh. Trung bình tín dụng ngân hàng tăng trưởng trên 30%/ năm. Chính sách mở rộng cung tiền trong nền kinh tế đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ cần có một lượng dự trữ đủ mạnh, trong khi đó mức dự trữ này chỉ bằng 2/3 mức an toàn của tiêu chuẩn thế giới (12 tuần nhập khẩu). Muốn đủ mạnh, mức dự trữ ngoại tệ này cần gia tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu để chuyển dịch sang hướng xuất siêu trong giai đoạn tái cấu trúc thay vì nhập siêu cao trong thời gian qua.

Nói cách khác, chính sách tiền tệ thời gian qua lấy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu. Định hướng chính sách tiền tệ trong đề án nhằm chuyển dịch sang mục tiêu kiềm chế lạm phát, thực hiện theo lạm phát mục tiêu trong khoảng 4-6% trong trung và dài hạn. Ở đây có 2 vấn đề cần quan tâm:

Thứ nhất, chuyển dịch mục tiêu điều hành của chính sách tiền tệ sang kiềm chế lạm phát sẽ phù hợp với xu hướng, tạo sự ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này đồng nghĩa cung tiền sẽ giảm mạnh trong giai đoạn tới. Việc tiếp cận vốn vay của các doanh nghiệp trong nền kinh tế sẽ không còn thuận lợi như trước đây.

Như vậy, dòng vốn tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp cần gia tăng và được động viên vào đầu tư sản xuất để thay thế dòng vốn tín dụng ngân hàng. Nhưng làm sao động viên dòng vốn này thì đề án chưa có giải pháp để có dòng tiền đầu tư thay thế.

Thứ hai, nếu lạm phát mục tiêu là 4-6%, lãi suất trong nền kinh tế chỉ vào khoảng 5-7%. Ở góc độ nền kinh tế ai cũng mong chờ mức lãi suất này để gia tăng đầu tư chi tiêu. Tuy nhiên, điều đáng nói là trong những nền kinh tế mà đồng tiền không được chuyển đổi thì còn tồn tại các loại ngoại tệ mạnh.

Nhu cầu nắm giữ ngoại tệ mạnh không chỉ đến từ khu vực dân cư mà thậm chí trong nền kinh tế để đáp ứng nhu cầu thanh toán nước ngoài. Như vậy, với mức lãi suất VNĐ như trên lãi suất của ngoại tệ mạnh (như USD) sẽ là bao nhiêu? Giả sử lấy mức 2% hiện nay thì chênh lệch lãi suất VNĐ và USD chỉ ở mức 3%.

Nếu tính mức điều chỉnh tỷ giá những năm vừa qua trung bình là 5%, nắm giữ USD sẽ có lợi cho cả doanh nghiệp và người dân thay vì VNĐ. Nếu giữ được biến động tỷ giá dưới 1% và lãi suất tiền USD của nền kinh tế thế giới trong 5-10 năm tới không tăng như hiện nay, dự trữ ngoại tệ của nền kinh tế hiện nay (khoảng 17 tỷ USD) không đủ đáp ứng. Vậy làm sao để thực hiện được mục tiêu của giải pháp này mà đề án đề cập.

Mâu thuẫn cơ cấu ngành, sản phẩm

Một trong những vấn đề lớn của tăng trưởng kinh tế là sự đóng góp của các ngành, sản phẩm. Đề án đã chỉ ra tỷ trọng các ngành trong GDP đã có sự chuyển dịch: nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 20%, công nghiệp và xây dựng chiếm 41% và dịch vụ chiếm 39%. Ở đây, chúng tôi nhận thấy có sự mâu thuẫn trong sự định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam thời gian qua chủ yếu vào lĩnh vực thâm dụng lao động, bất động sản và tài nguyên. Việc tái cấu trúc nền kinh tế sẽ khắc phục điểm yếu này, nghĩa là dòng vốn FDI sẽ không còn khuyến khích trong lĩnh vực trên. Định hướng này là đúng, nhưng làm sao thu hút dòng vốn nước ngoài chuyển dịch sang ngành nghề khác? Những ngành, sản phẩm trong định hướng phát triển sản xuất của đề án lại không phải là ngành, sản phẩm mà dòng vốn FDI tham gia đầu tư thời gian qua. Đề án cũng không cho các nhà đầu tư nước ngoài thấy được triển vọng đầu tư vào Việt Nam trong thời gian tới nên sẽ khó thu hút dòng vốn này trong những ngành, sản phẩm ưu tiên.

Ngành nông, lâm, ngư nghiệp được xem là lợi thế kinh tế của Việt Nam và đã mang lại nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế thời gian qua như đề án đã ghi nhận. Định hướng tái cơ cấu kinh tế cũng xác định đây là ngành có lợi thế cạnh tranh cần tiếp tục duy trì. Tuy nhiên lại không đề cập các giải pháp giúp cho ngành, sản phẩm này phát triển mạnh hơn.

Việc lựa chọn các ngành, sản phẩm ưu tiên phát triển để xây dựng năng lực cạnh tranh lại được xác định từ các ngành: Luyện kim, hóa dầu, đóng tàu và các phương tiện vận tải khác, điện tử…

Đề án đã chỉ ra ngành công nghiệp phần lớn còn ở dạng gia công, lắp ráp và chủ yếu dựa vào nhập khẩu và sản phẩm trung gian bên ngoài. Nếu tiếp tục chọn ngành này ưu tiên thì không phải thực hiện xây dựng cho giai đoạn 2016-2020 mà cần thực hiện ngay từ bây giờ. Điều này mới thật sự cần tái cấu trúc.

Như vậy liệu những ngành mà đề án ưu tiên phát triển có giúp Việt Nam tăng năng lực cạnh tranh không? Đề án đã xác định những ngành, sản phẩm này không phải lợi thế cạnh tranh quốc gia, là ngành tiêu tốn nhiều nguồn lực của quốc gia và gia tăng nhập khẩu cao trong khi sản phẩm tạo ra không giúp cho quá trình xuất khẩu.

Như vậy tiếp tục thực hiện chiến lược ngành, sản phẩm này sẽ gây ra áp lực ngoại tệ cho nền kinh tế khá lớn. Như chúng tôi đã phân tích trên, chiến lược ngành này đã đẩy chính sách tiền tệ vào thế khó, tỷ giá thường xuyên biến động tăng.

Điều này nói lên chính sách tiền tệ không thể thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát khi tỷ giá bất ổn, lãi suất VNĐ sẽ tăng cao, khu vực kinh tế tư nhân khó có thể thực hiện đầu tư dài hạn vào các ngành công nghiệp này. Thực trạng chính sách lãi suất cao thời gian qua đã tạo ra một rào cản lớn trong đầu tư dài hạn và nhất là đầu tư công nghiệp.

Cơ cấu vốn vay trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng hiện nay rất thấp và tỷ trọng cho vay ngành, sản phẩm công nghiệp càng nhỏ. Đó là một minh chứng cho việc đầu tư vào ngành công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân còn nhiều hạn chế, chỉ có đầu tư của dòng vốn nhà nước vào ngành, sản phẩm này là chủ yếu. Như vậy làm sao để huy động được khu vực tư nhân vào ngành, sản phẩm này thì đề án cũng không đề cập các giải pháp.

Tìm hướng ra cho tái cấu trúc

Nhìn từ thực trạng nền kinh tế, chiến lược phát triển ngành, sản phẩm phải phục vụ gia tăng tiềm lực tài chính cho nền kinh tế để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, tăng sức mạnh cho các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, động viên nguồn lực trong đầu tư phát triển.

Trên cơ sở đó, tại sao chúng ta không đặt vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng chọn lựa các ngành, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh từ gia tăng xuất khẩu và lựa chọn các ngành sản phẩm ưu tiên. Đó là những ngành, sản phẩm mà đầu ra của nó phải hướng đến xuất khẩu chứ không phải tiêu dùng nội địa.

Nghĩa là, dù ngành, sản phẩm đó có hàm lượng hàng nhập khẩu lớn nhưng có giá trị xuất khẩu cao. Việc nhập khẩu chỉ là một công đoạn trong quy trình hoàn thiện sản phẩm để xuất khẩu. Qua đó, Việt Nam có thể tìm thấy sự gia tăng giá trị trong sản phẩm gia công và thu về ngoại tệ cho đất nước.

Thực hiện chiến lược này giúp cho việc cân đối xuất nhập khẩu và tiến tới sự thặng dư ngoại tệ. Sự thặng dư ngoại tệ giúp Việt Nam ổn định trong chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước. Qua đó chính sách tiền tệ mới có thể thực hiện theo mục tiêu kiềm chế lạm phát mục tiêu 4-6%.

Việc kiềm chế được lạm phát mục tiêu sẽ giúp kích thích đầu tư, tiêu dùng. Ở đây, Chính phủ định hướng khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực trọng yếu sẽ giúp khu vực tư nhân tham gia để thay thế dòng tiền đầu tư từ khu vực nhà nước.

Về tiêu dùng, chính sách hạn chế dùng hàng ngoại, khuyến khích dùng hàng nội bằng nhiều chính sách thuế khóa… Khi thực hiện được chính sách tiền tệ mục tiêu cần sự phối kết hợp với chính sách tài khóa, chính sách lãi suất của trái phiếu chính phủ, tránh sự mâu thuẫn với nền kinh tế và chính sách tiền tệ.

Thiết nghĩ, một định hướng phát triển ngành, sản phẩm nên hướng đến gia tăng xuất khẩu trên cơ sở lợi thế cạnh tranh Việt Nam, đừng để chiến lược phát triển ngành, sản phẩm tách rời chính sách tài chính, tiền tệ để rồi an ninh tài chính bị phá vỡ trong nguy cơ của hội nhập.

TS. Lê Đạt Chí, Đại học Kinh tế TPHCM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Giảm thiểu rủi ro hệ thống ngân hàng

(ĐTTCO) - Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD cần phải sửa đổi một số vấn đề liên quan đến kiểm soát quản lý tín dụng, nợ các tổ chức cá nhân… nhằm làm cho hệ thống tài chính trở nên lành mạnh và an toàn hơn. 

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.