SCIC - Đổi mới để nâng cao hiệu quả

I/. Một số kết quả hoạt động đáng ghi nhận

Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) chính thức đi vào hoạt động theo Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Từ 2006-2011, SCIC đã tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại gần 1.000 doanh nghiệp; thực hiện đánh giá, phân loại và tái cơ cấu vốn nhà nước tại DN thông qua bán vốn tại gần 520 DN, trong đó bán hết vốn tại 466 DN với giá trị sổ sách bán vốn khoảng 1.280 tỷ đồng. Số tiền thu về đạt khoảng 2.770 tỷ đồng, gấp 2,17 lần so với mệnh giá.

SCIC - Đổi mới để nâng cao hiệu quả ảnh 1

Tổng tài sản của SCIC tăng hơn 8 lần do tăng vốn chủ sở hữu và tập trung đôn đốc thu nợ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp DN Trung ương; nguồn vốn chủ sở hữu tăng gần 6 lần do bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận tích lũy từ hoạt động đầu tư kinh doanh, thặng dự bán vốn. Lợi nhuận sau thuế năm 2010 đạt 2.282 tỷ đồng tăng trên 20 lần so với năm 2006. Tổng giá trị vốn nhà nước theo giá trị sổ sách do SCIC quản lý đã tăng trên 2 lần, từ khoảng 7.500 tỷ lên trên 15.000 tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư của SCIC đạt trên 6.000 tỷ đồng dưới nhiều hình thức như: mua cổ phiếu, trái phiếu của các DN; góp vốn thành lập DN mới; đầu tư tăng vốn tại các DN có lợi thế trong sản xuất kinh doanh với vai trò cổ đông nhà nước; đầu tư dự án  trong các lĩnh vực như: năng lượng, cơ sở hạ tầng, công nghệ cao... SCIC đã hợp tác cùng Tập đoàn Điện lực (EVN) đầu tư các dự án điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Thác Bà, Hải Phòng và Quảng Ninh; đang xúc tiến phối hợp với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế để triển khai các dự án trọng điểm như Thủy điện Lai Châu, Cảng hàng không quốc tế Long Thành...

Không chỉ thực hiện tái cơ cấu phần vốn nhà nước tại DN, SCIC còn giúp đem lại các giá trị gia tăng cho DN thông qua việc giới thiệu các nhà đầu tư chiến lược, nâng cao năng lực quản trị, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, thông qua đó gia tăng giá trị của DN và phần vốn nhà nước tại DN.

Kết quả tiếp nhận và bán vốn nhà nước của SCIC

Chi tieát

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Soá doanh nghieäp tieáp nhaän

229

623

40

18

17

12

Soá doanh nghieäp baùn voán

4

44

69

223

97

88

Soá doanh nghieäp thuoäc danh muïc

225

804

778

634

538

436

 Kết quả tài chính của SCIC

Chi tieát

Ñôn vò

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Doanh thu

Tyû ñoàng

144

1.272

2.268

2.839

2.753

3.773

Lôïi nhuaän tröôùc thueá

Tyû ñoàng

119

1.150

1.360

1.745,7

2.445

3.262

Toång soá voán Nhaø nöôùc taïi SCIC(*)

Tyû ñoàng

3.546

9.957

10.962

11.101

21.518

24.593

(*) Bao gồm: (i) vốn ngân sách cấp; (ii) vốn tiếp nhận tại các doanh nghiệp chuyển giao; (iii) các quỹ của Tổng công ty (quỹ đầu tư phát triển, dự phòng tài chính), lợi nhuận để lại.                                                                                       
(Nguồn: SCIC)

Theo Báo cáo Tổng kết hoạt động năm 2012 và kế hoạch năm 2013 của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), trong năm 2012, SCIC đạt lợi nhuận trước thuế 4.582 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 3.974 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2011, dù có tới 96%  nguồn thu của SCIC là từ gửi tiết kiệm (1.568 tỷ đồng ) và cổ tức (2.151 tỷ đồng, trong đó cổ tức Vinamilk là 1.001 tỷ đồng, FPT Telecom 175 tỷ, VinaRE –VNR- 61 tỷ, Dược Hậu Giang - DHG 57 tỷ, Bảo Minh-BMI- 46 tỷ, FPT mẹ -47 tỷ). Ngoài ra, hoạt động bán vốn nhà nước của SCIC cũng thu về cho SCIC 170 tỷ đồng…

Ngày 18-1-2013, SCIC đã khai trương một Công ty con là Công ty đầu tư SCIC (SIC) với hình thức là công ty TNHH một thành viên do SCIC là chủ sở hữu, hợp nhất báo cáo tài chính với SCIC, được SCIC cấp vốn điều lệ để hoạt động, được phân cấp trong quá trình đầu tư với vốn điều lệ ban đầu là 1.000 tỉ đồng.

Nhân dịp này, lãnh đạo SCIC nhấn mạnh SCIC sẽ tập trung vào hai chức năng chính là đầu tư tài chính (thực hiện đầu tư mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, mua bán sáp nhập) và đầu tư dự án; trọng tâm trong kế hoạch năm 2013 của SCIC là tập trung tăng cường hoạt động đầu tư trên nguyên tắc hiệu quả vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, các dự án cơ sở hạ tầng, bất động sản...

Cách đây không lâu, SCIC đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

II/. Đổi mới để hoạt động hiệu quả hơn nữa

Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp (DN) là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng được thể hiện trong các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, Hội nghị Trung ương 9 khóa IX và các Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X,  XI; đồng thời,  được tái khẳng định và cụ thể hóa trong Kết luận Hội nghị TW 6 khoá XI, cũng như  trong “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 17/07/2012, và “Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013. 

Đặc biệt, ngày 26-7-2010, Bộ Chính trị đã có Kết luận số 78-KL/TW về Đề án tiếp tục củng cố, phát huy vai trò của SCIC, trong đó khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng, đồng thời, trong thời gian tới, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho SCIC hoạt động hiệu quả trên cơ sở làm rõ địa vị pháp lý, hướng hoạt động của Tổng công ty.

Ngày 19-8-2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 1568/CT-TTg về việc triển khai Kết luận này, nhằm đến năm 2020 đưa SCIC: “Trở thành tập đoàn đầu tư chiến lược của Chính phủ Việt Nam thực hiện đầu tư kinh doanh trong các lĩnh vực quan trọng với mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn nhà nước, thúc đẩy năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam”.

Như vậy, cả về chủ trương và thực tế đều cho thấy, trong thời gian tới, SCIC đứng yêu cầu đẩy mạnh đổi mới và nâng cao năng lực thực tế để đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tham gia đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, huy động vốn, cung cấp các tư vấn tài chính, dịch vụ hỗ trợ khác; nâng cao hiệu quả vai trò là cổ đông năng động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước, nhà đầu tư chiến lược của Chính phủ, nhà tư vấn tài chính chuyên nghiệp và thúc đẩy việc quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế…

Với tinh thần đó, cần đặc biệt chú ý những khía cạnh sau:

- Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, xây dựng hệ thống quy trình nghiệp vụ, tổ chức bộ máy và mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế, nâng cao trình độ cán bộ, nhất là làm rõ trách nhiệm của người đại diện sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Đặc biệt, cần nghiên cứu đổi mới tổ chức và chức năng SCIC theo lĩnh vực, nhóm ngành kinh tế-xã hội, nâng dần tính tập trung một đầu mối và tính chuyên nghiệp trong quản lý, thay vì kiểu tổ chức và hoạt động vừa ôm đồm, vừa phân tán và bị quá tải như hiện nay; cần bảo đảm sự công khai, minh bạch về tài chính trong quá trình thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại các DNNN; khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để tổ chức và quản lý DNNN, khắc phục tình trạng trì trệ hoặc lạm dụng, trục lợi trong phân công chủ quản và “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong chỉ đạo, điều hành…

Các bộ được giao làm đại diện chủ sở hữu tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp  theo cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Việc đầu tư, kế hoạch sản xuất hàng năm, huy động vốn... thực hiện theo quy định của pháp luật tương ứng. Nghiên cứu để phân cấp cho Hội đồng thành viên có thẩm quyền quyết định việc thành lập chi nhánh. Việc thành lập mới doanh nghiệp phải báo cáo chủ sở hữu. Việc huy động vốn có liên quan đến ngoài nước phải có thẩm định của Bộ Tài chính.

- Thứ hai, đẩy mạnh việc bán vốn của nhà nước tại những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ, tập trung nguồn lực đầu tư vào những lĩnh vực có tác động quan trọng đối với nền kinh tế, nhất là để DNNN có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong đổi mới, ứng dụng KH&CN, giữ vững định hướng XHCN của nền kinh tế, tập trung vào những khâu, công đoạn then chốt của các lĩnh vực: An ninh, quốc phòng; độc quyền tự nhiên; cung cấp hàng hoá dịch vụ công thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan toả lớn.

Hoạt động của SCIC trong thời gian tới không đơn thuần và chủ yếu chỉ là đầu tư kinh doanh vốn nhà nước vì mục tiêu lợi nhuận tại các DN, mà SCIC phải là công cụ đắc lực thúc đẩy thực hiện việc thoái vốn đầu tư của các tập đoàn DNNN ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015; đồng thời, SCIC phải là công cụ, kênh truyền vốn để nhà nước chủ động trong việc điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng và thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế nói chung và đầu tư của các DNNN, cũng như sử dụng vốn nhà nước nói riêng theo hướng tập trung hơn vào các ngành, lĩnh vực thật sự then chốt, trọng yếu của nền kinh tế;

Cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, các ngành, lĩnh vực công nghiệp độc quyền tự nhiên hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao có sức lan tỏa lớn; tiếp tục giảm thiểu lĩnh vực và tình trang độc quyền kinh doanh của DNNN,  mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, nhất là tư nhân trong nước vào phát triển hạ tầng, phát triển các ngành, các sản phẩm có lợi thế, tiềm năng phát triển và các vùng kinh tế động lực.

Đối với các lĩnh vực: ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện theo các hướng:

1- Bán phần vốn của công ty mẹ - tập đoàn/tổng công ty nhà nước cho tổ chức, cá nhân ngoài tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, không bán hoặc chuyển giao lại cho các đơn vị thành viên trong nội bộ;

2-Chuyển vốn về những tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh phù hợp. Việc chuyển vốn thực hiện thông qua hình thức chuyển giao vốn hoặc chuyển nhượng vốn;

3- Chuyển toàn bộ doanh nghiệp do tập đoàn, tổng công ty giữ 100% vốn sang tập đoàn, tổng công ty có ngành nghề kinh doanh cùng với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp chuyển giao. Thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng doanh nghiệp hoặc chuyển giao nguyên trạng…

Đặc biệt, cần tránh tình trạng luẩn quẩn trong dòng vốn nhà nước: SCIC gửi tiền vào NHTMNN lấy lãi, NHTMNN dùng tiền này mua trái phiếu Chính phủ với lãi cao hơn, rút cục tiền lãi là do nhà nước tự trả cho mình và mất thêm chi phí trung gian nuôi bộ máy, trong khi khu vực DN khác cần vốn…

- Thứ ba, SCIC cần chủ động và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng, phê duyệt và triển khai ngay trong nửa đầu năm 2013 các chương trình hành động và đề án tái cơ cấu theo lĩnh vực, ngành hoặc vùng lãnh thổ thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được giao;

Đổi mới, phát triển và tiến tới áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ tốt của kinh tế thị trường với các DNNN; thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích bảo đảm DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và phù hợp cam kết hội nhập, tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường, xem nhu cầu thị trường, cơ chế thị trường và hiệu quả, lợi ích là căn cứ chính để quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển;

Có biện pháp tích cực ngăn ngừa và khắc phục những hạn chế, mặt trái của cơ chế thị trường; thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế có sự điều tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát...

Trong quá trình tái cơ cấu và quản lý DNNN “hậu tái cơ cấu”, nâng cao vai trò và năng lực, trách nhiệm của của người đại diện SCIC là nhằm vừa bảo đảm an toàn vốn nhà nước, vừa không cản trở quá trình kinh doanh thị trường của DN.

Hơn nữa, điều này chỉ có thể đạt được khi dựa trên cơ sở tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường và tuân thủ pháp luật; tách bạch chức năng chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu; đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách về thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN, đặc biệt là quản lý đầu tư, tài chính, cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát và các quy định về cổ phần hóa, sắp xếp, đổi mới DNNN;

Cần phân định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ của từng cấp trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, làm rõ cơ chế giám sát và trách nhiệm của đại diện quyền sở hữu vốn và tài sản nhà nước tại các DN phù hợp với Luật DN và yêu cầu quản lý vốn nhà nước tại các DN.

Nhà nước không bao cấp rủi ro cho doanh nghiệp, nhưng cũng không tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp bằng các quyết định hành chính của mình. Đồng thời, để bảo đảm các DNNN và chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra, cần hoàn thiện căn bản hệ thống công cụ và cơ chế giám sát, chế tài phân định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ của từng cấp từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của SCIC trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác.

Để hỗ trợ quản trị DNNN theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường trong hoạt động kinh doanh vị lợi nhuận, cần tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện những quy định không phù hợp liên quan đến vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp, chọn đối tác chiến lược, bán cỗ phần ưu đãi cho người lao động...

Đồng thời, làm rõ hơn vai trò của chủ sở hữu hoặc người đại diện chủ sở hữu; quyền chủ động điều hành sản xuất, kinh doanh của DNNN vì lợi ích chung; vai trò và cơ chế trách nhiệm, quyền lợi của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên. Đặc biệt, sự phân cấp quản lý cần thống nhất và rõ ràng, gắn với chịu trách nhiệm liên đới của từng tổ chức, cá nhân trong quản lý đầu DNNN; công khai các thông tin, quy trình, thủ tục, danh mục dự án, tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các dự án đầu tư của DNNN.

Bên cạnh hệ thống giám sát nhà nước, cũng cần xem xét bổ sung quy định các hoạt động đầu tư công, kể cả của các DNNN đều phải chịu sự giám sát của cộng đồng, xác lập quyền và trách nhiệm của cộng đồng trong vai trò giám sát đối với các hoạt động đầu tư của DNNN. Nghiên cứu quy định rõ các hành vi bị cấm và các chế tài đủ mạnh để xử lý các hành vi vi phạm ở các mức độ khác nhau; góp phần ngăn chặn những hành vi tiêu cực và làm cơ sở pháp lý để xử lý các sai phạm trong đầu tư của DNNN...

Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động kinh tế của nhà nước,  và do đó của DNNN, luôn có 2 mục tiêu với 2 tính chất khác nhau, đó là mục tiêu kinh doanh thông thường như các DN khác và mục tiêu công ích đặc trưng riêng có của mình. Vì vậy, cần xác định rõ theo các hệ tiêu chí đồng bộ và khoa học về tính chất kinh doanh và tính chất công ích của DNNN;

Từ đó làm rõ cơ chế quản lý phù hợp đáp ứng mục tiêu kinh tê-xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành, cụ thể và dài hạn; khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách nhiệm xã hội của  các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dễ dẫn đến đầu tư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả.

Đây cũng là điểm nút để giảm thiểu sự nhập nhằng, mù mờ hoặc lạm dụng trong hạch toán và đánh giá các hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh của các DN trong thực tiễn cả quản lý nhà nước, cũng như sự hoạt động tự chủ của DNNN, khiến các DNNN không hoạt động hiệu quả như mong muốn và tiềm năng, nhất là đối với các DNNN thuộc lĩnh vực độc quyền cao.

Đồng thời, dù tính chất kinh doanh hay công ích cũng đòi hỏi sự bình đẳng giữa các DNNN với các DN khác, hoặc theo Luật Doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh, hoặc theo Luật Đầu tư Công (đang được xây dựng) với yêu cầu ngày càng mở rộng sự tham gia của các DN khác vào thực hiện các hoạt động công ích được tài trợ bằng nguồn vốn NSNN theo nguyên tắc khuyến khích đấu thầu công khai và bình đẳng, giảm thiểu tình trạng khép kín, sự chi phối của lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ… như tinh thần nghị quyết Hội nghị TW3 Đại hội XI đã chỉ rõ.

Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cần thực hiện cơ cấu lại danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh, tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính; thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích bảo đảm doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Các DNNN, tập đoàn và Tcty nhà nước phải thực hiện công bố thông tin và trách nhiệm giải trình hoạt động, nhất là về tài chính, như quy định đối với các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, cần có quy chế kiểm soát giá và điều tiết lợi nhuận đối với DNNN hoạt động trong lĩnh vực độc quyền, nhằm bảo đảm lợi ích, sự bình đăng, công bằng xã hội chung và giảm thiểu tình trạng biến sự độc quyền và lợi nhuận nhà nước thành sự độc quyền và lợi nhuận của DN... hoàn thiện chế độ kế toán của các tập đoàn, tổng công ty để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động; Phải gắn hiệu quả kinh doanh của DNNN với lợi ích cá nhân của người đứng đầu.

Thay vì bổ nhiệm các chức danh chủ chốt bằng những quyết định không có điều kiện ràng buộc, thiếu công khai minh bạch chuyển sang tuyển chọn công khai các ứng cử viên trong xã hội trên cơ sở những yêu cầu về tăng năng suất, lợi nhuận; cần sắp xếp lại các doanh nghiệp có nguy cơ vỡ nợ, khó khăn để xử lý; đẩy mạnh cổ phần hóa để đặt DNNN lớn vào môi trường cạnh tranh; áp dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại, tốt nhất theo thông lệ quốc tế; đặt giám đốc điều hành vào môi trường cạnh tranh sẽ tránh được chuyện tranh cãi lương bổng...

Trong thời gian tới, cần tổ chức lại và có quy định đặt tên chính thức cho các tập đoàn, TCty và DNNN theo các mô hình quản trị công ty hiện đại và yêu cầu quản lý ngày càng cao, minh bạch hơn, chuẩn hóa và thống nhất tên gọi cho các loai hình tổ chức doanh nghiệp theo hướng chỉ nên có 3 tên gọi: DN, DN có vốn nhà nước và DN có vốn nước ngoài.

Cụ thể hóa nội hàm và đưa vào chỉ tiêu thống kê nhà nước 3 nhóm DN này. Đặc biệt, cần ưu tiên  xây dựng các mô hình tập đoàn kinh tế đa sở hữu trên cơ sở sự tự nguyện thoả thuận liên kết, hợp tác giữa các pháp nhân độc lập, với vai trò nòng cốt là DNNN, được vận hành theo đúng quy luật kinh tế..

Thực tế cho thấy, để bảo đảm hài hòa các mục tiêu và lợi ích của các bên có liên quan trong quá trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và tăng cường quản lý DNNN “hậu tái cơ cấu”, cần coi trọng đổi mới quy trình và phương pháp thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế và DNNN, đi từ yêu cầu và mục tiêu tổng thể chung của cả nước, đến các vùng lãnh thổ, rồi mới đến từng địa phương, cơ sở;

Đặc biệt, cần thận trọng và đồng bộ khi xây dựng và triển khai các đề án và các thể chế hỗ trợ các mô hình sản xuất hàng hóa lớn, có lợi thế so sánh và kỹ thuật cao, công nghệ quản lý hiện đại, cần gắn kết chặt chẽ giữa các khâu sản xuất và phân phối trong chuỗi giá trị chung, bảo đảm phân bổ hợp lý lợi ích giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị đó, cũng như cân nhắc tới những giới hạn nội tại về công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn vốn và yêu cầu giải quyết việc làm và an sinh xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn vùng sâu, miền núi và hải đảo xa xôi.

Trong quản lý DNNN, sự phối hợp  chính sách giữa các cơ quan chính phủ với các doanh nghiệp nhà nước cần gắn kết chặt chẽ và dân chủ với giới doanh nghiêp và viện, trường và các tầng lớp dân chúng khác. Sử dụng chuyên gia trong nước và nước ngoài có trình độ và khách quan nhằm đánh giá, phản biện độc lập các tác động 2 mặt của dự án đầu tư lớn. Làm tốt việc này sẽ hạn chế bớt những hoạt động đầu tư DNNN gắn với lợi ích cục bộ, chủ quan và ngắn hạn của các quan chức chuyên nghiệp và  chính trị trong đầu tư công...

TS.Nguyễn Minh Phong

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Trước đó, ngày 4-8-2017, giá xăng cũng đã tăng 599 đồng/ lít

Giá xăng tiếp tục tăng 461 đồng

(ĐTTCO)-Thông báo của liên bộ Công Thương-Tài chính phát đi chiều 19-8 cho biết, mặt hàng xăng RON 92 tăng 461 đồng/lít; xăng E5 tăng 431 đồng/lít.
 

Góc chuyên gia

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.