Phát triển ngành lúa gạo bền vững

Quản trị chứ đừng quản thúc

Thực tế trong thời gian qua, Nhà nước, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, đã can thiệp trên mức cần thiết vào thị trường sản xuất, cung ứng, xuất khẩu nông sản. Dễ thấy nhất là ngành sản xuất lúa gạo.

Quản trị chứ đừng quản thúc ảnh 1
Mặc dù mới đây, VN đã trúng thầu xuất khẩu 800.000 tấn gạo có thể được xem là thành công lớn của ngành, tuy nhiên, thành công này cũng đặt ra bài toán về chiến lược quản lý dài hơi chứ không phải là kiểu “ăn đong” như hiện nay. Một trong những cách thay đổi quan trọng đó là cách thức quản trị thị trường.

Lợi ích nhóm chi phối chính sách?

Trong chuỗi lợi nhuận từ sản xuất lúa gạo, hiện tại chỉ thương lái và DN xuất khẩu hưởng nhiều nhất. Nguyên nhân do DN xuất khẩu chưa gắn kết chặt chẽ với nông dân (thông qua việc cung cấp đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm). DN không muốn tái đầu tư cho nông dân, DN chủ yếu đầu tư ra các lĩnh vực kinh doanh khác như vật tư nông nghiệp, hàng hóa công nghiệp... để tìm kiếm lợi nhuận.

Rõ ràng việc lợi nhuận từ kinh doanh lúa gạo đang rơi vào tay thương lái khá nhiều là bất hợp lý. Hội Nông dân có danh thì cao, nhưng thực chất vai trò mờ nhạt, ít phục vụ được cho nông dân. Còn Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) lại có vị thế quá lớn, có quá nhiều lợi thế trong việc đề xuất chính sách. Họ không quan tâm đến nông dân khi đề xuất chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo mà thay vào đó là bảo vệ quyền lợi của các DN xuất khẩu.

Rõ ràng, thị trường lúa gạo đang ở thế độc quyền, vì chỉ Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2), chiếm tới hơn 50% thị phần xuất khẩu gạo của nước ta. Tình trạng này làm mất đi vai trò, sự sáng tạo của DN tư nhân.

Tuy Chính phủ đã có văn bản cho phép các DN được quyền xuất khẩu gạo, nhưng việc đáp ứng các yêu cầu Nhà nước đề ra là không dễ, nếu không muốn nói là rất khó. Thế nên, hiện nay đầu ra cho gạo VN trên thị trường thế giới chỉ tập trung vào hai cửa, bao gồm TCty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2), với hơn 50% thị phần xuất khẩu gạo của nước ta.

Điều này giải thích tại sao, DN tư nhân Việt Nam không thể giữ được vai trò, sự sáng tạo trên thị trường quốc tế. Việc để tồn tại yếu tố DN độc quyền như Vinafood 1 và Vinafood 2, rõ ràng không chỉ làm hạn chế khả năng tiếp cận, học hỏi, va chạm để có bản lĩnh thị trường của các DN tư nhân; mà lâu dài, những ưu ái quá mức cần thiết từ Nhà nước còn làm yếu đi khả năng cạnh tranh của DN nhà nước.

Phải thay đổi tư duy quản lý

Thực tế này cho thấy, một bất cập rằng, cách thức quản lý của Nhà nước đối với ngành nông nghiệp hiện nay thiên về quản thúc hơn là quản trị. Nghĩa là, thay vì đóng vai trò điều tiết, tạo môi trường tương tác cho các chủ thể trong nền kinh tế và đảm bảo các chủ thể hoạt động cùng một định hướng kết quả tốt nhất, hay mục tiêu chung của ngành nông nghiệp; thì hiện nay, mô hình quản lý lại kìm kẹp, bám sát, phân tách quyền lợi giữa các bên và chưa đề cao sự công bằng của các chủ thể nông dân, DN xuất khẩu.

Do đó, chức năng và vai trò của Nhà nước cần có sự chuyển đổi từ kiểm soát, giám sát, quản lý sang kiến tạo đúng với chủ trương mà Chính phủ đã đề ra là “phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển”.

Cụ thể, nhà nước không can thiệp quá sâu vào thị trường mà nên để thị trường tự vận hành. Nghĩa là nhà nước để các DN vận hành bình đẳng và tự do theo quy luật cung- cầu. Bởi lẽ, ý thức sản xuất theo nhu cầu và tư thế đối đầu cạnh tranh sẽ làm động lực chính để các DN xây dựng vùng nguyên liệu, định giá thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh. DN nào có chiến lược đúng, ắt sẽ tồn tại và ngược lại thay vì cách thức quản lý “cầm roi đi sau” như hiện nay.

Trước thực trạng nông dân chưa được hưởng lợi từ giá gạo, chính sách phát triển ngành hàng lúa gạo trong tương lai nên được tập trung vào tiến hành hợp tác quốc tế để đáp ứng nhu cầu về mặt chính trị của cây lúa, thay vì hợp đồng kinh tế phải là hợp đồng đầu tư với quốc gia chuyên nhập lúa gạo.

Với chính sách này, một phần sẽ góp nâng cao vị thế của Việt Nam, mặt khác sẽ góp phần gắn chặt nhà nhập khẩu với vùng sản xuất, rút ngắn khâu trung gian nâng cao giá bán cho người sản xuất. Cùng với đó, những vùng chuyên canh sản xuất lúa hàng hóa phải được quy hoạch để sản xuất lớn, được đầu tư cẩn thận, lúa chất lượng cao, phù hợp thị hiếu.

Đây chính là những mô hình “cánh đồng mẫu lớn” đang được nhà nước quan tâm. Tuy nhiên các chính sách hỗ trợ đầu tư của nhà nước đối với những vùng chuyên canh này vẫn chưa rõ ràng. Chính vì thế, “các chính sách nên tập trung nâng cấp chuỗi giá trị lúa gạo vùng chuyên canh với sự tham gia của nông dân và các chính sách hỗ trợ các tác nhân trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến kinh doanh, xuất khẩu gạo.

Bên cạnh tăng cường liên kết giữa DN và nông dân, các chính sách hỗ trợ chỉ nên tập trung cho vùng chuyên canh chính thay vì toàn quốc trong phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống chế biến và kinh doanh. Các vùng khác nên được chủ động đa dạng hóa sản xuất theo tín hiệu thị trường. Từ đó, giá tại vùng chuyên canh là giá tham chiếu, phục vụ điều hành kinh doanh gạo trên cả nước. Đặc biệt, cần có chính sách cấp vùng và chính sách cấp toàn quốc cho ngành lúa gạo. Đặc biệt, phải xác định rõ vị thế của nông dân trong chuỗi giá trị. Nếu vị thế yếu, nông dân khó có lợi trong chuỗi này.

Về chính sách điều hành, Nhà nước phải thành lập Ban điều hành lúa gạo với sự tham gia của DN, nông dân. Ban này chịu trách nhiệm dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, quy hoạch vùng trồng lúa. Để có được sự phát triển bền vững ngành lúa gạo ở Việt Nam, ai cũng phải được hưởng lợi một cách công bằng.

Đặc biệt, Chính phủ cần có quy hoạch tổng thể ngành gạo với hai mục tiêu chính sách khác nhau nhưng bổ sung cho nhau, bao gồm sản xuất hàng hóa quy mô lớn và sản xuất quy mô nhỏ để tự tiêu thụ hoặc để bán trong cộng đồng địa phương. Ở đây, Nhà nước chỉ đứng quan sát tổng thể chuỗi cung ứng, từ đó sử dụng các công cụ, lợi thế người cầm lái đưa ra những quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ về vốn; quy định giá sàn mua, xuất khẩu; tạo động lực môi trường cho DN, nông dân phấn đấu, nỗ lực sản xuất và phối hợp để mang về lợi ích chung. Trong điều kiện cấp bách nhà nước có thể quy định tạm trữ, trợ giá… ngắn hạn để cứu dân.

Chính sách của Nhà nước phải bắt đầu tư việc tiếp cận ngành lúa gạo ở góc độ thị trường. Nhà xuất khẩu lúa gạo cần liên kết với nông dân và phải tham gia vào quá trình sản xuất.

(Theo DĐDN)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dự án đường sắt trên cao Hà Đông - Cát Linh sử dụng vốn ODA và đội vốn "khủng"

Băn khoăn đầu mối quản lý nợ công

(ĐTTCO)-Việc tồn tại đến 3 cơ quan quản lý nợ công là Bộ Tài chính, Bộ KH-ĐT và Ngân hàng Nhà nước là điều khiến các đại biểu vẫn băn khoăn khi cho ý kiến về dự luật Quản lý nợ công...