Dự thảo nghị định xử lý vi phạm thuế

Phức tạp, dễ mình khó người

Cuối tuần qua, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã có văn bản góp ý dự thảo nghị định quy định về xử lý vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. Theo VCCI, dự thảo xử phạt này có nhiều điểm không rõ ràng và phần thiệt nghiêng nhiều về đối tượng nộp thuế.

Phức tạp, dễ mình khó người ảnh 1
Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Phó Trưởng ban Pháp chế (VCCI), dự thảo có nhiều quy định nhắc lại Luật Xử lý vi phạm hành chính nhưng không đầy đủ, được sắp xếp thiếu logic, khiến cho dự thảo đồ sộ, phức tạp và khó hiểu.

Vì vậy, cần có sự rà soát lại các quy định cũng như nội dung để đảm bảo tuân thủ đúng luật và chỉ nhắc lại các quy định của luật nếu thật cần thiết.

Chẳng hạn, tại Điều 9 về xử phạt đối với nhiều hành vi khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế, Khoản 4 quy định “Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng đối với người nộp thuế là cá nhân; phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với người nộp thuế là tổ chức có nhiều hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3 điều này”.

Quy định này có thể gây ra 2 cách hiểu: nếu cùng lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì hoặc là một hành vi vi phạm bị xử phạt 2 lần (vì các hành vi tại khoản 1, 2, 3 đã bị các mức phạt từ 100.000 đồng đến 4 triệu đồng tùy theo hành vi vi phạm), hoặc sẽ chỉ bị xử phạt theo khoản 4 trên.

Nếu theo cách hiểu đầu, một hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt 2 lần, điều này là chưa thống nhất với quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là: “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”.

Sự không rõ ràng và “có lợi” cho cơ quan thuế còn thể hiện ở nhiều điểm. Cụ thể, quy định về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về thuế (Điểm b Khoản 1 Điều 7), dự thảo nghị định quy định: “Khi xác định mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ thì xem xét giảm trừ tình tiết tăng nặng theo nguyên tắc nếu có 2 tình tiết giảm nhẹ được giảm trừ 1 tình tiết tăng nặng. Sau khi giảm trừ theo nguyên tắc trên, nếu còn 1 tình tiết tăng nặng và 1 tình tiết giảm nhẹ, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và thái độ khắc phục hậu quả của đối tượng vi phạm, người có thẩm quyền xử lý xem xét áp dụng mức phạt tiền đối với trường hợp có 1 tình tiết tăng nặng hoặc trường hợp không có tình tiết tăng, không có tình tiết giảm nhẹ”.

Quy định “tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và thái độ khắc phục hậu quả của đối tượng vi phạm” là mang tính định tính, chưa rõ ràng, cụ thể và trao nhiều quyền quyết định cho cán bộ của cơ quan có thẩm quyền xử lý trong việc quyết định hình phạt. Điều này có thể là dư địa của tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng từ phía cơ quan nhà nước.

Bên cạnh đó, quy định trên về việc xác định mức phạt tiền đối với người nộp thuế vi phạm chưa hợp lý và khá phức tạp, rất khó áp dụng. Điều này thể hiện ở điểm không có cơ sở để cho rằng “2 tình tiết giảm nhẹ” tương đương “1 tình tiết tăng nặng”.

Quy định này có sự phân biệt một cách bất hợp lý và không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp. Một quy định nữa của dự thảo là “Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, mỗi tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ được tính tăng hoặc giảm 20% mức phạt trung bình của khung tiền phạt…”.

Quy định này càng cho thấy rõ việc 1 tình tiết tăng nặng tương đương 1 tình tiết giảm nhẹ, vì cùng tương đương 20% mức phạt trung bình của khung tiền phạt. Ngoài ra, việc xác định “2 tình tiết giảm nhẹ” tương đương “1 tình tiết tăng nặng” khiến cho việc xác định mức phạt tiền trong trường hợp đối tượng vi phạm vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ trở nên phức tạp, khó xác định và có thể tạo ra dư địa cho tình trạng tham nhũng.

“Do vậy, để khắc phục được sự chưa rõ ràng và điểm chưa hợp lý ở trên, đề nghị ban soạn thảo cân nhắc xem xét quy định 1 tình tiết giảm nhẹ được giảm trừ 1 tình tiết tăng nặng” - bản đóng góp của VCCI kiến nghị.

Theo VCCI, về mặt nguyên tắc, việc cưỡng chế thuế là phù hợp, đảm bảo khả năng hiện thực hóa các quy định xử phạt tới tận cùng. Tuy nhiên, trong thực thi cũng có những băn khoăn.

Chẳng hạn, đối với các doanh nghiệp, cơ quan thuế có được phép cưỡng chế truy thu thuế hoặc phạt thuế theo một trình tự, thời hạn riêng có phù hợp với lý thuyết về quyền ưu tiên chi trả trong trường hợp doanh nghiệp phá sản/mất khả năng trả nợ hay không?

Hay có khiến các chủ thể khác không có quyền cưỡng chế tương tự cơ quan thuế rơi vào tình trạng bất lợi, thiệt thòi? Thí dụ, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng không thể trả nợ nhưng chưa tuyên bố phá sản (đây là trường hợp rất phổ biến), doanh nghiệp nợ thuế nhưng đồng thời cũng nợ lương người lao động, khi đó cơ quan thuế bằng biện pháp cưỡng chế sẽ truy thu được thuế và cả tiền phạt, còn người lao động không có cách gì lấy được lương và ngay cả khi sau đó doanh nghiệp có làm thủ tục phá sản, các chủ nợ khác, trong đó có người lao động đã bị thiệt thòi so với cơ quan thuế.

Ngọc Quang

Các tin, bài viết khác

Góc chuyên gia

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.