Phát triển kinh tế biển: Cần lập bộ chuyên ngành

(DĐDN) - Chúng ta có chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 nhưng lại chưa được cụ thể hóa bằng một quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển theo đúng nghĩa. Và cũng có không ít bộ ngành, địa phương chưa thật sự coi trọng yếu tố biển trong chiến lược phát triển thuộc lĩnh vực quản lý được giao.

Phát triển kinh tế biển: Cần lập bộ chuyên ngành ảnh 1 

Muốn trở thành quốc gia mạnh giàu từ biển cần thiết phải có định hướng chiến lược và lộ trình kế hoạch thực hiện chi tiết, cụ thể. Trong đó, trước hết con người làm chủ được trình độ khoa học, công nghệ khai thác biển tiên tiến, phải có các phương tiện điều tra – nghiên cứu và khai thác biển hiện đại. Hơn nữa, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và hệ thống cơ chế chính sách quản lý tổng hợp, liên ngành, liên vùng, liên cơ quan… để thống nhất quản lý Nhà nước về biển, hải đảo.

Sau 2030, tài nguyên sẽ cơ bản không còn

Cơ chế quản lý theo ngành thường làm nảy sinh những mâu thuẫn, chồng chéo trong quản lý, những xung đột không gian trong khai thác, sử dụng biển giữa các ngành, các tổ chức và cá nhân ở cùng một vùng biển. Điều này khiến hiệu quả khai thác, sử dụng biển, hải đảo thấp và chỉ đạt được mục đích ngắn hạn.

So với các nước trong khu vực, chúng ta vẫn thuộc diện khai thác biển thủ công và lạc hậu, đặc biệt là tụt hậu về mặt công nghệ. Chưa phát huy được mọi tiềm năng từ biển với tầm nhìn dài hạn, còn chú trọng nhiều đến các lợi thế tĩnh về tài nguyên vật chất và lợi ích ngắn hạn, các giá trị dịch vụ, giá trị chức năng và phi vật chất, phi vật thể của các hệ thống tài nguyên biển và lợi ích dài hạn trong sử dụng biển còn bị xem nhẹ. Nếu không có các giải pháp khắc phục mang tính đột phá thì sau năm 2030, một số dạng tài nguyên sẽ cơ bản không còn.

Trong khi đó, cơ cấu ngành nghề kinh tế biển chưa hợp lý, mới phát triển một phần ở vùng biển quốc gia, chưa chuẩn bị điều kiện và thể hiện rõ nét tư tưởng vươn ra biển lớn, gắn kết đất liền với đại dương để giải quyết bài toán phát triển mang tầm thời đại và chiến lược sinh tồn của dân tộc.

Xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước luôn là hai mặt của một vấn đề trong đường lối phát triển của đất nước. Kinh tế biển, đảo phát triển sẽ góp phần tăng cường “dân sự hóa” hoạt động của người VN trên biển, trên các đảo và quần đảo. Tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển Đông còn lâu dài, gian khổ, cho nên tập trung phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững sẽ tăng cường “chủ quyền dân sự” của VN trên biển Đông, góp phần giảm căng thẳng và xung đột.

Quản lý theo lĩnh vực ưu tiên

Có thể nói, kinh tế biển là những ngành kinh tế – kỹ thuật đặc thù và quản lý biển là lĩnh vực quản lý chuyên ngành, nên cần những con người có trình độ chuyên môn – công nghệ, người hiểu biển và tâm huyết với biển. Ngay với đội ngũ ngư dân, chúng ta cũng phải làm tốt công tác đào tạo lao động trên biển.

Chúng ta cũng phải ra biển với tư thế của một đội hình hiện đại. Hiện nay phương tiện đi biển của chúng ta nhiều nhưng chưa hiện đại nên cần phải khắc phục tính lạc hậu và tụt hậu về khoa học công nghệ biển. Bởi lẽ, chúng ta không thể dùng “thuyền thúng” để ra “biển lớn”.

Sứ mạng to lớn, mang tầm chiến lược sống còn của một dân tộc cần phải giao phó cho một thể chế ở đẳng cấp cao nhất mới đủ thẩm quyền và tập trung nguồn lực trực tiếp, nhanh chóng và kịp thời giúp Chính phủ giải quyết. Nên việc thành lập mới Bộ Biển và Nghề cá với chức năng quản lý nhà nước tổng hợp và thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý về mặt nhà nước đối với biển, vùng ven biển và hải đảo là giải pháp quan trọng cấp thiết hiện nay đối với chiến lược phát triển kinh tế biển của VN.

Nhiệm vụ trọng tâm và bao trùm của bộ này là quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng biển, vùng ven biển và hải đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của VN. Đồng thời, giúp Chính phủ chuẩn bị các điều kiện và tổ chức các hoạt động khai thác ở các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia và đại dương.

Theo triết lý chung, cái gì chung của thiên hạ thì phải tranh thủ khai thác trước. Nghĩa là bộ này không chỉ quản lý “ao nhà” mà còn vươn ra “biển lớn” – di sản chung của loài người mà luật pháp quốc tế cho phép tất cả các quốc gia đều có quyền hưởng dụng và có nghĩa vụ gìn giữ.

Như vậy, bộ mới này không phải là phép “cộng cơ học” các ngành kinh tế biển hiện có, mà tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước liên ngành. Cơ cấu tổ chức của bộ nên theo cách tiếp cận tiên tiến của thế giới là quản lý biển theo không gian và theo lĩnh vực ưu tiên.

Ví dụ, giúp việc và tham mưu cho bộ này có thể có các đơn vị quản lý chuyên môn như: Cục Quản lý vùng ven biển, Cục Quản lý khai thác biển, Cục Quản lý khai thác đảo, Cục Các vấn đề đại dương, Cục Nghề cá, Cục Bảo vệ môi trường và bảo tồn biển, Vụ Chính sách biển và đại dương, Cục Thông tin-Dữ liệu biển… phục vụ trực tiếp công tác quản lý Nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo.

 PGS TS Nguyễn Chu Hồi
Giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Biển và Hải đảo, Bộ TN – MT 

(DĐDN)

Các tin, bài viết khác