Liên kết chuỗi từ sản xuất đến chế biến

Nền nông nghiệp Việt Nam đang cung cấp một khối lượng hàng hóa lớn đến các nước trên thế giới. Nông sản xuất khẩu bình quân 5 năm gần đây đạt 31,45% trong tổng sản lượng hàng hóa sản xuất. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sản xuất và chế biến dựa trên nguyên tắc chuỗi giá trị còn nhiều bất cập trước yêu cầu phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao.

> Trung Quốc thu mua nông sản - Có phá vỡ cấu trúc thị trường?

Vai trò công nghiệp chế biến

Ngành chế biến có vai trò quan trọng trong việc thiết kế và chế biến nhiều loại hàng hóa nông sản phục vụ tiêu dùng trong và ngoài nước. Công nghiệp chế biến từ sơ chế, đông lạnh đến chế biến sâu nhiều mặt hàng từ một loại nông sản đã làm gia tăng giá trị nhiều lần.

Cũng chính ngành chế biến mới là kênh tiêu thụ quan trọng, đưa hàng nông sản Việt Nam đến thị trường thế giới, kể cả những thị trường khó tính như EU và Hoa Kỳ; thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng chất lượng cao phù hợp với các thông lệ quốc tế.

Mối liên kết (sơ đồ) cho thấy vai trò tổ chức liên kết của ngành công nghiệp chế biến trong chuỗi giá trị hàng nông sản có thể liên kết vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Liên kết chuỗi từ sản xuất đến chế biến ảnh 1

Doanh nghiệp chế biến vừa đảm nhận chức năng chế biến, xuất khẩu hàng nông sản trực tiếp, duy trì thị trường truyền thống, tìm kiếm thị trường mới với sản phẩm chế biến mới; phối hợp, liên kết với ngành nông nghiệp, các viện khoa học, trường đại học và công ty cung ứng với các tổ chức sản xuất khác nhau… hình thành vùng nguyên liệu tập trung phục vụ việc chế biến sản phẩm mới và sản phẩm truyền thống.

Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy thúc đẩy phát triển ngành chế biến nông sản với các chính sách xúc tiến thương mại thu hút nhà đầu tư vào phát triển ngành công nghiệp chế biến. Ngành nông nghiệp chế biến được trợ cấp ban đầu để làm kho lạnh, sàn đấu giá nông sản, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển.

Thái Lan còn thúc đẩy phát triển “OTOP” (mỗi tháng một sản phẩm) gắn với công nghiệp chế biến rất đa dạng về hình thức. Các doanh nghiệp chế biến với sự trợ lực của Chính phủ đã trở thành động lực thúc đẩy sự liên kết các bên tham gia trong việc gia tăng giá trị hàng nông sản.

Thực trạng bức xúc

Thực trạng nền nông nghiệp nước ta còn quá nhiều bất cập: Ngành chế biến nông sản èo uột, kém phát triển và không hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp; không hình thành nền sản xuất chuyên canh chất lượng cao; hiệu quả sản xuất của nền nông nghiệp thấp, lãng phí nguồn tài nguyên nông nghiệp nhiệt đới. Việt Nam là một nước đi sau, bước vào nền kinh tế thị trường đã có nhiều mô hình phát triển liên kết chuỗi với các phương thức hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau… nhưng nước ta đã không học tập kinh nghiệm, bỏ lỡ cơ hội để tổ chức nền nông nghiệp hiện đại và chất lượng cao, liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu một cách hiệu quả.

Trong các văn kiện Đại hội Đảng từ Đại hội IV đến nay, cũng như các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đã nêu rõ gắn công nghiệp với nông nghiệp. Đây được xem là nhiệm vụ hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong nhiều thập niên qua. Song trên thực tiễn còn nhiều điều đáng bàn.

Trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những bước phát triển về sản xuất lương thực, cây ăn trái, cây công nghiệp, phát triển thủy sản… đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu. Tuy vậy, nhìn tổng thể, sản xuất nông nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lạc hậu, quy mô nhỏ, năng suất và chất lượng chưa cao, giá trị gia tăng thấp do hầu hết đang xuất khẩu thô.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, tỷ trọng xuất khẩu thô hiện vẫn còn 90%, tức chỉ có 10% nông sản xuất khẩu là sản phẩm tinh chế. Các mặt hàng được coi là liên kết được với chuỗi giá trị thị trường thế giới như cà phê, chè, tiêu, cao su, gạo… số lượng lớn nhưng giá trị lại thấp hơn thế giới (trừ cao su, còn giá chè 10 năm qua cũng chỉ bằng 52,7% giá chè thế giới, cà phê bằng 50,9%).

Xem xét ngành nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến phát triển, nhiều thập niên qua nền nông nghiệp nước ta không cung cấp đủ nguyên liệu, dẫn đến nhập khẩu nông sản phục vụ ngành công nghiệp chế biến, góp phần làm tăng nhập siêu chung của cả nước.

Đơn cử 5 tháng đầu năm 2011, bông nhập khẩu 167.000 tấn, sợi dệt 256.000 tấn, kim ngạch nhập khẩu thủy sản 182 triệu USD… Điều khá nghịch lý ở một nước nông nghiệp như Việt Nam là bỏ trống cho doanh nghiệp nước ngoài hoành hành ở nhiều ngành công nghiệp chế biến như thức ăn gia súc, thức ăn nuôi trồng thủy sản, phân bón…

Nguyên nhân sâu xa của vấn đề là do sản xuất nông nghiệp nước ta không tổ chức theo hệ thống liên kết chuỗi. Quy hoạch phát triển nông nghiệp cắt đoạn, không liên kết với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến trong một hệ thống liên hoàn.

Các quy hoạch phát triển của chúng ta chưa trở thành bản thiết kế các chuỗi ngành hàng được bố trí trên một không gian địa lý nhất định từ hệ thống nghiên cứu, cung ứng, sản xuất, chế biến và tổ chức các kênh tiêu thụ…

Sự bùng nổ ngành công nghiệp chế biến không quy hoạch đã làm sản sinh nhiều về lượng nhưng thiếu về chất. Đơn cử ngành chè, mỗi năm bình quân xuất khẩu trên dưới 100.000 tấn chè nhưng có tới 600 doanh nghiệp và 3.000 cơ sở chế biến xuất khẩu.

Theo Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, năm 2010, số cơ sở chế biến cà phê đã gấp 1,5 lần sản lượng cà phê sản xuất ra. Việc này đã tạo nên tình trạng đói nguyên liệu, hiệu quả đầu tư không cao, chậm thu hồi vốn đầu tư trong ngành công nghiệp chế biến.

Công nghệ trong các nhà máy chế biến hầu hết là của những năm 70 thế kỷ trước, thậm chí một số doanh nghiệp tư nhân mua công nghệ thải loại của Trung Quốc về dùng. Lao động kỹ thuật trong các cơ sở chế biến nông sản chiếm tỷ lệ thấp.

Hầu hết các doanh nghiệp sử dụng lao động có trình độ tay nghề cao chỉ chiếm 5-10%, số qua đào tạo nghề sơ cấp chiếm khoảng 30%, còn lại chủ yếu lao động thủ công. Các doanh nghiệp còn thiên về sử dụng lao động giá rẻ trong khi trên thế giới đang đi vào các lợi thế động, tạo nên sự khác biệt về sản phẩm.

Đòi hỏi tình thế mới

Những năm gần đây, nhu cầu thị trường thế giới chuyển mạnh sang tiêu dùng các sản phẩm chế biến tinh, có hàm lượng chất xám cao. Nhưng hầu hết doanh nghiệp chế biến của Việt Nam dừng lại chế biến thô, như đông lạnh trong thủy sản, chè búp, cà phê nhân mà chưa nghiên cứu chế biến sản phẩm chất lượng cao, chế biến sâu tạo ra dạng sản phẩm đa dạng từ một nguyên liệu nông sản.

Vì vậy sức cạnh tranh của nông sản chế biến của Việt Nam còn kém, chỉ dừng lại ở khâu gia công nguyên liệu trong nước rồi xuất khẩu chế biến tinh ở nước khác. Vô hình trung nông nghiệp Việt Nam là vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến ở các nước có công nghiệp chế biến trình độ công nghệ tiên tiến.

Phát triển công nghiệp chế biến gắn liền với phát triển vùng nguyên liệu, đi cùng với xây dựng hệ thống thị trường cung ứng và tiêu thụ, tạo nên các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế là một trong những nhiệm vụ của tái cấu trúc nền nông nghiệp nước ta theo hướng nâng cao hiệu quả đầu tư và khai thác các lợi thế phát triển của từng địa phương gắn với liên kết vùng. Việc thúc đẩy sự liên kết này phải dựa trên các nguyên tắc liên kết chuỗi ngành hàng, từ giống, phân bón đến quy trình canh tác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Do  vậy, trong quy hoạch phát triển phải tính đến quy trình phát triển chuỗi ngành hàng được bố trí trên một không gian lãnh thổ nhất định.

Để có thể hình thành vùng nguyên liệu tập trung cho các ngành công nghiệp chế biến, khâu đột phá đầu tiên là thay đổi phương pháp quy hoạch phát triển tổng thể hiện nay sang quy hoạch phát triển các tiểu ngành nông sản dựa trên lý thuyết chuỗi sản phẩm và phân bố không gian lãnh thổ kinh tế với các lợi thế được tính toán cụ thể.

Để đảm bảo chất lượng đầu ra của nông nghiệp làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cần định hướng phát triển chuỗi cung ứng vật tư nông nghiệp đảm bảo sản xuất sạch hơn. Từ đó nhanh chóng triển khai xây dựng các sàn giao dịch hàng nông sản cũng như giao dịch các mặt hàng vật tư phục vụ nông nghiệp.

Các doanh nghiệp cung ứng, tiêu thụ có thể cùng với nhà máy chế biến áp dụng cơ chế hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn để trao đổi hàng hóa. Điều này giúp cho doanh nghiệp chế biến ổn định nguồn nguyên liệu và chia sẻ rủi ro, lợi ích với nông dân.

Dự báo thị trường cần được đẩy mạnh trong các địa phương với việc xây dựng cơ chế chuyển giao, sử dụng giữa các bên tham gia như các nhà phân tích chính sách, các nhà quản lý, hiệp hội ngành hàng, nông dân, doanh nghiệp chế biến.

Cần sớm sửa đổi Luật Đất đai nhằm giúp triển khai nhanh việc tích tụ ruộng đất, giảm tình trạng xé lẻ manh mún ruộng đất làm cản trở đến phát triển nền nông nghiệp sạch, hữu cơ đáp ứng nhu cầu thị trường.

Chính phủ cần có những chính sách, các công cụ kinh tế để có thể huy động các nguồn lực đầu tư trong nước cho phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản và lựa chọn một số lĩnh vực để mời gọi đầu tư FDI.

Nguyễn Văn Huân (Viện Kinh tế Việt Nam)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.