Hiệu quả hoạt động DNNN chưa tương xứng nguồn lực nắm giữ

(ĐTTCO)-Sáng 28-5, Quốc hội đã nghe và thảo luận về báo cáo của đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai đoạn 2011-2016.

Toàn cảnh phiên họp sáng 28-5

Toàn cảnh phiên họp sáng 28-5

 Còn nhiều hạn chế trong hoạt động

Theo báo cáo của đoàn giám sát do Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh, trình bày, cho thấy, hiệu quả hoạt động của DNNN giai đoạn 2011 - 2016 chưa tương xứng với nguồn lực đang nắm giữ, tổng tài sản và vốn tăng nhưng doanh thu, lợi nhuận trước thuế và nộp NSNN có tốc độ tăng chậm (bình quân 3%/năm), tổng số nợ phải trả cao, tăng 26% so với năm 2011; chưa thực sự phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.

Hiệu suất sinh lời trên vốn kinh doanh của các DNNN đạt 2,1% năm 2015, thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): năm 2015 là 5,5%; hiệu quả đầu tư của khối DNNN cũng đạt thấp so với DN ngoài nhà nước và DN FDI, hệ số ICOR của khối DNNN trong giai đoạn 2011-2016 cao hơn nhiều so với 2 khu vực DN còn lại (năm 2016 cao gấp 1,58 lần so với DN ngoài nhà nước, 1,86 lần so với doanh nghiệp FDI) .

Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận của toàn khối DNNN (100% vốn nhà nước) trong giai đoạn 2011-2016 (tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) giảm 39%, tỷ suất lợi nhuận/tài sản (ROA) giảm 30%). Một số DNNN hoạt động yếu kém, làm ăn thua lỗ, tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu thấp hơn chi phí vay vốn trung bình của các tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản cao. Tại một số DNNN còn xảy ra tình trạng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, làm thất thoát tài sản nhà nước .

Hoạt động đầu tư ra ngoài DN còn dàn trải, hiệu quả chưa cao. Lũy kế tính đến ngày 31-12-2016 đã đầu tư ra nước ngoài trên 7 tỷ USD, có 25,5% dự án báo lỗ, 29% dự án lỗ lũy kế. Lợi nhuận được chia cho bên Việt Nam năm 2016 là 145 triệu USD, tương đương trung bình 2% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài thực hiện. Hiệu quả đầu tư vào công ty con, công ty liên kết còn hạn chế, ảnh hưởng không tốt đến năng lực tài chính và hiệu quả sử dụng vốn tại DN.

Bất cập khác cũng được đoàn giám sát chỉ ra là tình trạng lãng phí, thất thoát nguồn lực đất đai, tài sản... diễn ra phức tạp; tình trạng đấu thầu hình thức chưa được ngăn chặn hiệu quả; công tác quản lý tài sản công thiếu chặt chẽ. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản của các cơ quan quản lý nhà nước chưa được thực hiện đầy đủ, triệt để nhằm phát hiện và xử lý kịp thời.

Trong quản lý, sử dụng đất của các DNNN, còn trường hợp chưa kê khai đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không đưa đất vào sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, để đất bị lấn, chiếm. Bên cạnh đó, việc cơ cấu lại một số DN làm ăn thua lỗ, thu hồi vốn của Nhà nước từ các dự án đầu tư không hiệu quả còn chậm, hậu quả nghiêm trọng. Việc công khai thông tin trong DNNN còn hạn chế, không kịp thời, thiếu minh bạch, mang tính hình thức.

Báo cáo cũng chỉ ra việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) còn chậm, quy mô còn hạn chế. Qua 10 năm hoạt động, vốn nhà nước do SCIC tiếp nhận quản lý mới khoảng 1% tổng số vốn nhà nước tại doanh nghiệp (theo giá trị sổ sách); 99% vốn nhà nước tại DN vẫn do các bộ, địa phương quản lý.

Chưa hấp dẫn nhà đầu tư chiến lược

Theo ĐB Leo Thị Lịch (Bắc Giang), những bất cập trong hoạt động của DNNN là do nhiều bộ, ngành không muốn rời xa DN vốn coi là sân sau và là biểu hiện lợi ích nhóm, nhóm lợi ích. Chính vì vậy, các bộ, ngành không thực hiện khách quan trong xây dựng chính sách, làm giảm hiệu quả quản lý, khiến DNNN ỷ lại, gây ra hiện tượng tiêu cực lãng phí. Do đó, cần triệt để thực hiện chủ trương chuyển giao DNNN về SCIC.

Một điểm khác khiến cho DN hoạt động không hiệu quả, theo ĐB Leo Thị Lịch là do đến nay vẫn còn tư duy giao DN thực hiện chính sách xã hội, không tách bạch với hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo gánh nặng cho DN với nhiệm vụ công ích dẫn đến không đánh giá thực sự hiệu quả của DN và khi DN lỗ thì nói do phải thực hiện chính sách xã hội. Từ đó, ĐB Leo Thị Lịch đề nghị tách rõ 2 chức năng của DNNN, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để các DN khác cùng tham gia, chia sẻ.

Theo ĐB Trần Văn Minh (Quảng Ninh), tỷ lệ cổ phần Nhà nước nắm giữ tại DN còn cao: trong bán cổ phần tại 426 DN thì tỷ lệ nhà nước nắm giữ hơn 81%. Chưa đạt được yêu cầu về tái cơ cấu.

ĐB Trần Văn Minh phân tích, khi tỷ lệ sở hữu của cổ đông bên ngoài cao thì họ mới có thực quyền tham gia cải cách đổi mới DN. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần cao của Nhà nước cũng làm giảm sự hấp dẫn của DN, sự quan tâm của nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là với DN ngoài nước. Trong khi, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đóng vai trò quan trọng vì họ là người mang đến công nghệ, kỹ năng quản trị, thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động, đóng góp tích cực cho ngân sách. Do đó, cần tiếp tục rà soát, tách bạch những DN mà nhà nước cần chi phối.
ĐB Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ) đề nghị Chính phủ cần sớm nghiên cứu, sửa đổi Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp. Trong đó, điểm lưu ý là mở rộng khái niệm DN mà nhà nước chi phối bởi tỷ lệ nắm giữ vốn khác nhau thì cơ chế quản lý khác nhau.

Cũng theo ĐB Hoàng Quang Hàm, vai trò của DNNN được xác định là then chốt trong nền kinh tế, vì vậy, để giữ được vai trò này thì DN cần phải duy trì lượng vốn nhất định. Do đó, khi thoái vốn, cổ phần hóa, cần phải tính toán số vốn để duy trì DN, tránh việc tiền thu về đầu tư nhiệm vụ khác, khi cần đầu tư cho DN thì không có.

HÀ MY

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất