Gỡ “nút thắt” ODA

Gỡ “nút thắt” ODA ảnh 1

Ảnh mang tính chất minh họa. Nguồn: Internet

Bộ Kế hoạch - Đầu tư vừa kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho xây dựng đề án mới về định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA để hỗ trợ thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015.

Thời gian qua, việc thu hút được nguồn vốn ODA khá lớn góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng nảy sinh nhiều tồn tại cần sớm giải quyết để nâng cao hiệu quả nguồn vốn này.

Số liệu tổng hợp từ Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho biết thông qua 18 hội nghị CG thường niên, tổng vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam đạt trên 64,3 tỷ USD, mức năm sau thường cao hơn năm trước, kể cả những lúc kinh tế của các nhà tài trợ gặp khó khăn.

Tổng vốn ODA ký kết đến nay đạt trên 50,4 tỷ USD, chiếm 78,4% tổng vốn ODA cam kết. Tổng vốn ODA giải ngân tính đến hết năm 2011 dự kiến đạt 33,4 tỷ USD, chiếm trên 61% tổng vốn ODA ký kết.

Thời gian qua tình hình giải ngân vốn ODA có những cải thiện nhất định với chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, mức giải ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tỷ lệ giải ngân vẫn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực.

Với vốn của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ của Việt Nam là 11,6% so với 19,4% của khu vực; vốn của Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), tỷ lệ của Việt Nam là 13,6% so với 16,6% của quốc tế. Nhiều chương trình, dự án đầu tư sử dụng vốn vay ODA đã phải gia hạn, dẫn đến hiệu quả đầu tư giảm do chậm đưa các công trình vào khai thác, sử dụng.

Tình hình triển khai chậm và giải ngân thấp còn khiến nước ta khó thuyết phục các nhà tài trợ đưa ra các khoản cam kết mới hoặc tăng vốn ODA cho Việt Nam. Hiện nay số vốn ODA đang ký kết, còn hiệu lực gần 26,4 tỷ USD đối với các nhà tài trợ, tuy nhiên giá trị giải ngân mới đạt 6,9 tỷ USD, còn 19,4 tỷ USD chưa được giải ngân. Một số nhà tài trợ tồn đọng vốn lớn như WB (6,1 tỷ USD), Nhật Bản (5,9 tỷ USD), ADB (4,5 tỷ USD)...

Các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng vốn ODA đã không ngừng được tháo gỡ, hoàn thiện song vẫn còn xung đột với các văn bản pháp quy khác, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng. Ngoài ra, sự khác biệt về quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ, đặc biệt trong đấu thầu, chính sách về an sinh xã hội (đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư)... đã gây khó khăn cho các dự án ODA, làm chậm tiến độ thực hiện các dự án và giải ngân.

Một số dự án thiết kế quá phức tạp với sự tham gia của nhiều bộ, ngành, địa phương trong khi năng lực điều phối, quản lý và thực hiện của cơ quan chủ quản hạn chế. Bên cạnh đó, thời gian chuẩn bị thực hiện các dự án đầu tư bằng vốn ODA thường kéo dài 2-3 năm, dẫn đến nhiều dự án phải điều chỉnh thiết kế và tổng mức đầu tư do biến động về giá cả, chi phí giải phóng mặt bằng.

Việt Nam vừa bước vào ngưỡng nước có thu nhập trung bình, nên để thực hiện mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, giai đoạn tới rất cần các nguồn lực mạnh cả từ trong nước và bên ngoài.

Vì thế, các cơ quan quản lý cần sớm có các giải pháp mới có thể cải thiện và tạo bước đột phá về giải ngân nguồn vốn ODA, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội từ nguồn lực này.

Theo các chuyên gia kinh tế, giải pháp trước mắt là Chính phủ cần sớm ban hành nghị định mới thay thế Nghị định 131/2006/NĐ-CP, theo hướng tinh giản và hài hòa hóa tối đa các quy trình thủ tục giữa Việt Nam với các nhà tài trợ, đáp ứng tốt những thay đổi về viện trợ phát triển khi Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp.

Bên cạnh đó cần mở rộng sự tham gia của các đối tượng, đặc biệt khu vực tư nhân, theo hình thức hợp tác Nhà nước và tư nhân (PPP). Trong bối cảnh nguồn vốn vay kém ưu đãi ngày càng tăng phải sớm xây dựng cơ chế tài chính trong nước đối với ODA để đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.