Đột phá xây dựng các khu kinh tế tự do

Việt Nam đã thoát khỏi hàng các nước kém phát triển, vươn lên hàng ngũ các nước có thu nhập trung bình. Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là làm gì để bứt phá lên hàng các nước phát triển. Từ sự nghiên cứu thế giới cho thấy giải pháp có tính đột phá này ở Việt Nam là xây dựng các loại hình khu kinh tế tự do, xem đây là nơi thử nghiệm các thể chế mới, từ đó nhân rộng ra cả nước.

Yêu cầu của thời đại

Các khu kinh tế đã được thành lập ở nước ta có các đặc trưng sau: Chưa phải là nơi thử nghiệm các thể chế; chưa là nơi hội tụ những lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh tiêu biểu của đất nước và quốc tế; lấy các ưu đãi là công cụ chính để hấp dẫn các nhà đầu tư; các thể chế hành chính và kinh tế hầu như giống với thể chế chung cả nước, có rất ít sự vượt trội, chưa thực sự là những cực tăng trưởng đi đầu cả nước; không gắn kết được với các vùng kinh tế, tác động lan tỏa thấp.

Do vậy, việc điều chỉnh lại các khu kinh tế hiện có, xây dựng các khu kinh tế tự do thế hệ mới ngang tầm thời đại đang là yêu cầu cấp bách, đặc biệt là trong điều kiện nước ta đã hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới.

Các khu kinh tế là những nơi thu hút các tập đoàn kinh tế nước ngoài đến làm ăn. Họ có lợi ích liên kết với Việt Nam và gắn chặt với sự ổn định của vùng biên giới ven biển. Chính họ là người mong muốn hòa bình và ổn định để yên tâm đầu tư. Các đặc khu kinh tế là những cửa sổ quan trọng nhất để Việt Nam nhìn ra thế giới, kéo thế giới vào Việt Nam, là điều kiện quan trọng để phát triển, bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu chủ yếu của việc xây dựng các loại hình khu kinh tế tự do là thu hút đầu tư nước ngoài, công nghệ hiện đại, ý tưởng phát triển, nhân lực chất lượng cao… Do vậy các khu này phải có những tiêu chí sau:

Thứ nhất, thể chế kinh tế và hành chính hiện đại. Các quốc gia đang trong thời kỳ chuyển đổi thường có sức ỳ về tư duy, tập quán, sự kháng cự của các nhóm lợi ích… làm giảm hiệu quả những thể chế kinh tế.

Thực tế cho thấy Nhà nước chỉ nên làm những gì thị trường không làm, giữ vai trò điều tiết khi cần thiết, xây dựng một chính quyền trong sạch, bộ máy điều hành gọn nhẹ được điện tử hóa… Những điều này khó thực hiện trên phạm vi cả nước, nhưng có thể làm trong một số khu vực, từ đó nhân rộng ra. Đây là điều kiện quyết định sự thành bại của các khu kinh tế.

Thứ hai, vị trí địa lý. Lợi thế này trước hết phải có hải cảng quốc tế gần đường hàng hải quốc tế. Vì hiện nay hơn 80% buôn bán thế giới vận tải bằng đường biển.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng hiện đại. Những nước kém phát triển trong thời kỳ chuyển đổi, cơ sở hạ tầng nói chung lạc hậu, nhu cầu về vốn đầu tư để hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng rất lớn. Do vậy cần tập trung đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng ở những vùng có lợi thế kinh tế trước, tạo đà phát triển cho cả nước. Những vùng có lợi thế này không nhiều và thường vẫn là vùng ven biển.

Thứ tư, nguồn nhân lực chất lượng cao là một yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế của một công ty cũng như một quốc gia. Trong thế giới ngày nay cuộc cạnh tranh giành giật nguồn nhân lực đang diễn ra rất gay gắt. Do vậy quốc gia nào tạo dựng được “những mảnh đất lành”, có sức hấp dẫn mới thu hút được những nguồn nhân lực này.

Cho đến nay nước ta đã xây dựng được một số khu chế xuất, thành công nhất là khu chế xuất Tân Thuận, khu kinh tế mở Chu Lai, một số khu kinh tế khác như Phú Quốc, Dung Quất, Vân Phong, Nhơn Hội, Lăng Cô, Vân Đồn…

Tuy nhiên các khu này đều đang trong thời kỳ xây dựng ban đầu với những thể chế hạn hẹp của các khu kinh tế cửa khẩu, chứ chưa phải là các khu kinh tế tự do, đặc khu kinh tế với nghĩa đầy đủ của nó.

Những loại hình khu kinh tế tự do

KHU CHẾ XUẤT là một khu chuyên chế biến để xuất khẩu với hàng rào thuế quan bằng không. Cùng với quá trình toàn cầu hóa phát triển, hàng rào bảo hộ của quốc gia ngày càng giảm, do vậy lợi thế của những khu này đã giảm theo. Vì thế nhiều quốc gia đã chuyển đổi các khu này thành KHU KINH TẾ TỰ DO THẾ HỆ MỚI.

Mô hình CẢNG TỰ DO là những khu cảng thực hiện xuất nhập khẩu hàng hóa tự do không có thuế quan, có thể có kho lưu trữ hàng hóa để gia công thêm, hoặc để đóng gói…

Với xu hướng tự do thương mại như hiện nay, vai trò của các cảng tự do tuy ngày càng giảm, nhưng vẫn còn ý nghĩa và nó đang được hiện đại hóa để phù hợp với xu thế phát triển hiện đại và vẫn phù hợp với những điều khoản ngoại lệ của WTO.

KHU KINH TẾ MỞ là một loại khu kinh tế có mô hình tương tự với các khu công nghiệp nhưng khác ở mức độ mở cửa và ưu đãi cao hơn; các ngành kinh doanh đa dạng hơn, không chỉ sản xuất công nghiệp mà trong khu kinh tế mở thường có cả khu thương mại tự do (phi thuế quan) có các khu kinh tế dịch vụ.

Đột phá xây dựng các khu kinh tế tự do ảnh 1

TPHCM rất thành công trong việc xây dựng khu chế xuất Tân Thuận,
nhưng cũng chưa phải là khu kinh tế tự do.
(Trong ảnh: Công nhân tan ca tại khu chế xuất Tân Thuận). Ảnh: VIỆT DŨNG

ĐẶC KHU KINH TẾ có điểm nổi bật là có thể chế đặc biệt nhằm thu hút chủ yếu các nhà đầu tư nước ngoài, với những ưu đãi rất cao về thuế, về quyền kinh doanh, thể chế hành chính và kinh tế theo hướng tự do hóa có mức độ vượt trội so với thể chế trong nước và khu vực, cơ sở hạ tầng hiện đại, vị trí có nhiều lợi thế…

Điểm đặc biệt quan trọng nhất của các đặc khu kinh tế là có bộ máy hành chính với quyền tự quản khá cao, đủ để có thể đề xuất, chuẩn y và thực thi những thể chế hành chính và kinh tế vượt trội so với khung thể chế chung.

KHU TỰ DO THƯƠNG MẠI (hay khu phi thuế quan, hay ưu đãi thuế quan) xây dựng nằm ở các cảng ven biển, hoặc các cửa khẩu biên giới. Các khu thương mại tự do này thường ở các vùng có cảng biển quốc tế, hay các cửa khẩu lớn trên đất liền. Các khu này chủ yếu phục vụ cho buôn bán quốc tế: tạm nhập tái xuất; nhập gia công, lắp ráp tái xuất; kho bãi; hoạt động ngân hàng cho vay thanh toán xuất nhập khẩu và các dịch vụ khác.

Ở các khu này thuế xuất nhập khẩu bằng không, và hầu như không có các thủ tục hải quan xuất nhập khẩu. Tại đây thương gia nước ngoài được kinh doanh buôn bán chuyển khẩu, quá cảnh, xuất nhập khẩu, đại lý thương mại, thành lập ngân hàng và công ty bảo hiểm… phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu.

Một loại hình khác là ĐÔ THỊ QUỐC TẾ. Ở những đô thị quốc tế này người nước ngoài làm việc và sinh sống nhiều hơn người bản địa.

Khu thương mại tự do, khu kinh tế mở ở Việt Nam đã được thừa nhận và có một số quy chế pháp lý và đã thực tế xây dựng. Tuy nhiên đô thị quốc tế, đặc khu kinh tế và cảng tự do cho đến nay vẫn chưa được xây dựng.

Vì thế, việc xây dựng các đặc khu kinh tế ở Việt Nam cần phải giải quyết 3 vấn đề quan trọng: Xây dựng thể chế về đặc khu kinh tế; xác định địa điểm; kêu gọi và tìm kiếm nhà đầu tư.

Trong 3 việc này các thể chế về đặc khu phải được soạn thảo và thông qua sớm. Vì nội dung của luật thông thoáng đến đâu sẽ quy định việc xác định địa điểm và tìm kiếm nhà đầu tư.

Xây dựng thể chế

Việt Nam có thể tham khảo mô hình thể chế về đặc khu của Trung Quốc, khu kinh tế tự do của một số nước khác. Thể chế của các đặc khu kinh tế Trung Quốc là thể chế phái sinh từ mô hình thể chế của Hồng Công thể hiện trên những tư tưởng chung của các thể chế này: “Chính phủ nhỏ, xã hội lớn”, “Phê duyệt ít, dịch vụ nhiều”, “Hiệu quả cao, pháp chế hóa”, “Tinh giản thống nhất và hiệu quả”…

Chính phủ Trung Quốc cho phép các đặc khu kinh tế có thể vượt trội so với thể chế trong nước, theo mô hình hướng ngoại, tới mức “một quốc gia trong một quốc gia” để có thể thu hút được vốn, kỹ thuật, phương pháp quản lý kinh doanh hiện đại của nước ngoài…

Việt Nam có thể tập trung nỗ lực tạo lập trong 15-20 năm tới một số thành phố ven biển hiện đại có sức hấp dẫn ngang tầm thế giới. Những khu kinh tế tự do này phải trong một quy hoạch phát triển liên hoàn của một vùng hay một tuyến tăng trưởng, để có thể tận dụng được lợi thế phát triển của thế giới bên ngoài và của cả vùng để lan tỏa ảnh hưởng.

Từ năm 2000 đến nay các khu kinh tế tự do đã phát triển ở Hàn Quốc, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và một số nước ASEAN…

Đây là thế hệ mới của các khu kinh tế tự do, có những đặc trưng sau: Thể chế hành chính và kinh tế hiện đại và quốc tế; giảm các mức ưu đãi theo quy định của WTO (tuy nhiên vẫn còn các ưu đãi theo các điều khoản ngoại lệ của WTO); mức độ hội nhập quốc tế cao hơn; bộ máy quản lý hiện đại, thực hiện chính phủ điện tử đầy đủ, chế độ dịch vụ công hiện đại, loại bỏ tham nhũng và quan liêu; chế độ nhân sự hiện đại, trọng dụng nhân tài, đãi ngộ theo mức quốc tế…

Từ những đánh giá trên so sánh với những thể chế hiện hành của các khu kinh tế mở Việt Nam, có thể có một số nhận xét sau đây: Cấp quản lý các khu kinh tế mở Việt Nam không phải là một cấp hành chính, mà chỉ là cơ quan quản lý kinh tế đối với khu kinh tế mở, trực thuộc cơ quan hành chính cấp tỉnh.

Điều đó có nghĩa là về quản lý kinh tế có thể có một số khác biệt với tỉnh trực thuộc, nhưng về quản lý hành chính thì không có. Sự không phù hợp của thể chế kinh tế của khu kinh tế mở với thể chế hành chính của cấp tỉnh là một hạn chế rất lớn đối với hoạt động của khu kinh tế mở. Cơ chế và bộ máy quản lý của các tỉnh - thành Việt Nam hiện chưa thể đáp ứng được yêu cầu của các thông lệ quốc tế.

Để đảm bảo cho thể chế kinh tế và hành chính trong đặc khu phù hợp với nhau, có tác dụng hỗ trợ nhau, trong các khu này phải có một cấp hành chính có quyền tự quản cao, có cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong khuôn khổ pháp luật do Quốc hội quy định.

Qua 20 năm kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài đã vào Việt Nam với số dự án hàng ngàn. Họ đã đầu tư vào đâu và hiện còn muốn đầu tư vào đâu, đây là vấn đề cần được xem xét. Có thể có những địa điểm nước ngoài chưa quan tâm, nhưng Chính phủ Việt Nam muốn xây dựng đặc khu kinh tế ở đó cần có sự tham khảo ý kiến của các nhà đầu tư nước ngoài.

Tóm lại, điều kiện quyết định sự thành bại của các đặc khu kinh tế là thể chế của nó phải hiện đại và mang tính quốc tế. Đây sẽ là giải pháp đột phá về thể chế có tầm quan trọng hàng đầu.

TS. Võ Đại Lược (Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.