Cần khuôn khổ pháp lý rõ ràng

Suốt từ đầu năm 2015, câu chuyện một số doanh nghiệp tư nhân lớn đề nghị mua sân bay và cơ quan quản lý cũng muốn bán sân bay đã trở thành đề tài tranh luận nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của công luận và giới chuyên môn. ĐTTC trích ý kiến của TS. Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế, về vấn đề này.

Bán hay nhượng quyền?

Cần khuôn khổ pháp lý rõ ràng ảnh 1 
Sân bay là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia. Bởi lẽ, đó không chỉ là cơ sở hạ tầng kinh tế mà còn là cơ sở hạ tầng xã hội phục vụ hàng triệu người mỗi năm, cả trong nước và quốc tế; đồng thời có ý nghĩa quan trọng về an ninh, quốc phòng. Theo thông lệ quốc tế, tư nhân hóa sân bay hiện hữu được thực hiện theo 3 hình thức chủ yếu: hợp đồng quản lý thường có thời hạn ngắn dưới 5 năm, hợp đồng cho thuê dài hạn và bán một phần hay toàn bộ sân bay.

Hình thức nhượng quyền dài hạn hay thậm chí nhượng quyền vĩnh viễn chỉ áp dụng đối với trường hợp xây dựng sân bay mới. Sân bay là nơi hoạt động, tác nghiệp của rất nhiều đơn vị tổ chức cung cấp dịch vụ, hàng hóa công và tư thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau.

Chính vì vậy, lựa chọn bán cả sân bay hay chỉ nhượng quyền khai thác trong một thời gian nhất định cần căn cứ vào tính chất và mức độ quan trọng của sân bay. Cho dù lựa chọn phương thức nào cũng cần dựa trên cơ sở hợp đồng với các quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của người được mua sân bay hay được nhận quyền khai thác.

Trong đó, cần quy định về tổ chức quản lý và mối quan hệ với các đối tác công và tư hoạt động trên địa bàn sân bay bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền và hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Nhà nước trên địa bàn sân bay: đồng thời đảm bảo tuân thủ nghiêm túc các quy định quản lý nhà nước đối với hoạt động tại sân bay.

Nhà nước khẳng định và quy định rõ quyền quản lý của mình trong các lĩnh vực như quản lý giá dịch vụ, quản lý bay, cấp phép bay... Theo đó, hình thức nhượng quyền khai thác sân bay có thời hạn có thể là lựa chọn phù hợp nhất với năng lực của khu vực tư nhân Việt Nam hiện nay, cũng như phù hợp với mối quan hệ giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước trong phối hợp đáp ứng các yêu cầu về kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng liên quan đến hoạt động của mỗi sân bay.

Hình thức nhượng quyền khai thác đã được quy định tại Nghị định 15/CP ngày 14-2-2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Trước khi tiến hành chuyển nhượng quyền khai thác sân bay cần có bản mô tả chi tiết các quyền này đi đôi với định giá chuyển nhượng phù hợp và các điều kiện đi kèm, kể cả điều kiện xử phạt, thu hồi một phần hay toàn bộ quyền khai thác khi xảy ra vi phạm các điều kiện trong hợp đồng chuyển nhượng.

Bán cho ai, bán như thế nào?

Do việc bán sân bay chưa có tiền lệ và có nhiều yếu tố vượt ra khỏi khuôn khổ chương trình cổ phần hóa DNNN cũng như hoạt động bán tài sản nhà nước nên cần thực hiện thí điểm trước khi nhân rộng mô hình này. Sau khi có tổng kết thí điểm sẽ xây dựng khuôn khổ pháp lý quy định rõ hình thức chuyển nhượng quyền khai thác từ Nhà nước sang tư nhân, không chỉ đối với sân bay mà còn đối với các cơ sở hạ tầng quan trọng khác như cảng biển, đường giao thông...

Căn cứ vào lý do bán sân bay và loại hàng hóa được bán để quyết định việc bán cho ai, không phải bất cứ ai có tiền muốn mua sân bay cũng được. Do hoạt động sân bay rất phức tạp, đặc thù, liên quan đến nhiều ngành nghề đòi hỏi chất lượng dịch vụ và kỹ thuật cao nên đối tượng mua sân bay hay nhận chuyển nhượng quyền khai thác nên và cần có tính chuyên nghiệp.

Tính chuyên nghiệp này được thể hiện ở bề dày kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực quản lý khai thác sân bay, ở mối quan hệ mật thiết với hoạt động sân bay, ở phương án tiếp nhận và sử dụng quyền khai thác được chuyển nhượng.

Người mua quyền chuyển nhượng khai thác sân bay nên được xác định trên cơ sở cạnh tranh công khai giữa nhà khai thác chuyên nghiệp hiện tại là Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), các hãng hàng không hay nhà đầu tư có tổ chức miễn là chứng minh được năng lực quản lý khai thác sân bay của mình, không phân biệt là công ty cổ phần hay không phải là công ty cổ phần.

Một trong những tiêu chí quan trọng nhất để lựa chọn người mua sân bay là đánh giá phương án khả thi đảm bảo quyền tiếp cận và nâng cao chất lượng dịch vụ sân bay cho tất cả các đối tượng có liên quan trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền, công khai minh bạch.

Quyết định bán cho ai và trong chừng mực nào đó là bán như thế nào cần có sự phân tích so sánh và cân nhắc thấu đáo các phương án khác nhau khi ngay Cục Hàng không Việt Nam cũng cho biết chuyển nhượng quyền khai thác sân bay không chỉ có hình thức hợp đồng kinh doanh - quản lý công trình nhượng quyền trong một thời hạn nhất định, mà có thể thông qua chuyển đổi và cổ phần hóa chính ACV - doanh nghiệp đang trực tiếp quản lý hoạt động của 21 sân bay.

Mục tiêu bán sân bay là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, tăng chất lượng dịch vụ sân bay trên nền tảng cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền nên phương thức bán quyền khai thác sân bay cũng cần theo cơ chế cạnh tranh thông qua đấu thầu công khai minh bạch, không nên áp dụng hình thức chỉ định thầu.

Giá chuyển nhượng quyền khai thác sân bay chỉ là một trong những tiêu chí chấm thầu, tiêu chí quan trọng hơn nhiều để quyết định khả năng trúng thầu là phương án sử dụng quyền khai thác sân bay, cả trong tình trạng hiện tại lẫn phương án phát triển trong suốt thời gian nhận chuyển nhượng quyền, bao gồm cả quyền lợi và trách nhiệm của bên nhận chuyển nhượng lẫn bên chuyển nhượng quyền khai thác sân bay.

TS. Vũ Đình Ánh, chuyên gia kinh tế

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Tăng cường kỷ luật ngân sách

(ĐTTCO) - Khuyết điểm lớn nhất của hệ thống tài chính công là vấn đề kỷ luật ngân sách không nghiêm ngay từ khâu lập dự toán, tổ chức thực hiện và chế độ giám sát trong suốt quá trình thực hiện.
 

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.