8 năm chưa thống nhất tỷ lệ biểu quyết

Hôm nay 9-12, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương phối hợp Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam tổ chức tọa đàm, lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp (DN) và chuyên gia về các vấn đề cần sửa đổi của Luật DN 2005. Dự luật này sẽ được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 và thông qua tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XIII (năm 2014).

8 năm chưa thống nhất tỷ lệ biểu quyết ảnh 1
Một trong những nội dung đáng chú ý được đưa ra lấy ý kiến tại tọa đàm là tỷ lệ thông qua quyết định của hội đồng thành viên/đại hội cổ đông (HĐTV/ĐHCĐ) và cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật DN 2005, trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế. Còn tại Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11 phê chuẩn việc Việt Nam gia nhập WTO do Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 29-11-2006, quy định: Công ty TNHH, CTCP được quyền quy định trong điều lệ công ty các nội dung tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của HĐTV/ĐHCĐ.

Tuy nhiên, Luật DN 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thông qua quyết định của HĐTV/ĐHCĐ là 65%. Điều này mâu thuẫn với cam kết WTO của Việt Nam. Và trên thực tế, để an toàn các DN đều áp dụng theo quy định tại Luật DN nếu không muốn bị “tuýt còi” từ cơ quan quản lý. Vấn đề đặt ra là phạm vi áp dụng cam kết WTO đến đâu? DN nào có quyền áp dụng theo Nghị quyết 71? DN phải áp dụng tỷ lệ theo văn bản nào được coi là hợp pháp?

Mục đích khi áp dụng tỷ lệ theo Nghị quyết 71 nhằm tránh việc sửa Luật DN 2005 và cho phép các bên tự thỏa thuận. Do đó, đã là công ty phải được áp dụng tỷ lệ này. Nghị quyết 71 đã áp dụng những nguyên tắc bình đẳng nhưng thực tế chưa vận dụng được quy định này. Do vậy, việc lựa chọn chốt tỷ lệ này bao nhiêu, cần thiết phải có sự thống nhất trong sửa đổi Luật DN tránh quy định theo kiểu “hiểu thế nào cũng được” như hiện nay.

Có nhiều quan điểm cho rằng việc áp dụng tỷ lệ 51% theo Nghị quyết 71 chỉ giới hạn trong các DN liên doanh, còn DN 100% vốn trong nước và 100% vốn nước ngoài đều không có quyền áp dụng. Lập luận đưa ra bảo vệ cho ý kiến này do cam kết WTO là sự thỏa hiệp giữa Việt Nam với các bên đàm phán, trong đó, Luật DN 2005 đã nhượng bộ các nhà đầu tư nước ngoài khi cho phép các bên liên doanh được quyền thỏa thuận tỷ lệ tối thiểu 51%, thay vì 65% như quy định của Luật DN 2005.

Tuy nhiên, theo Luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc Công ty Tư vấn KAC, Trưởng nhóm nghiên cứu rà soát Luật DN 2005, cho rằng lý giải này thiếu cơ sở, bởi nếu chỉ DN liên doanh có quyền áp dụng Nghị quyết 71 nhiều nguyên tắc cơ bản của WTO và pháp luật Việt Nam bị vi phạm.

Thứ nhất, theo nguyên tắc, mọi DN đều bình đẳng trước pháp luật. Không DN nào bị phân biệt đối xử hoặc được ưu tiên vì bất cứ lý do gì, trừ trường hợp vì lợi ích công cộng. Nguyên tắc này được quy định rất rõ ràng và cụ thể tại Điều 5 Luật DN 2005, trong đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của DN, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Bên cạnh đó, Điều 4 Luật DN 2005 quy định DN liên doanh, DN 100% vốn trong nước và DN 100% vốn nước ngoài đều là DN Việt Nam, bởi đều được thành lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy, áp dụng nguyên tắc bình đẳng giữa các DN, khi DN liên doanh có quyền áp dụng Nghị quyết 71, tức không có lý do gì để hạn chế DN khác được quyền áp dụng.

Thứ hai, theo nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, các nhà đầu tư không phân biệt quốc tịch đều bình đẳng. Do vậy, cũng không có lý do để phân biệt đối xử nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư Việt Nam. Theo đó, quyền thỏa thuận về nội dung điều lệ giữa các nhà đầu tư ngang nhau, nên không thể có việc nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng tỷ lệ 51% còn nhà đầu tư trong nước lại không.

Quy định tỷ lệ 65% hoặc 75% tùy trường hợp trong Luật DN có mục đích ban đầu là bảo vệ cổ đông nhỏ trước cổ đông lớn nhằm giảm thiểu sự can thiệp của cơ quan hành chính vào hoạt động của DN. Tuy nhiên, quy định này chưa tính đến trường hợp cổ đông nhỏ lợi dụng quyền phủ quyết của mình nhằm mưu cầu lợi ích riêng, khiến hoạt động của công ty bị đình trệ.

Thậm chí có những công ty Nhà nước chỉ nắm 36%, thậm chí 26% cũng có quyền phủ quyết các vấn đề quan trọng, đã gây ra nhiều khó khăn cho người điều hành. Thực tế trên cho thấy việc ấn định tỷ lệ biểu quyết ít nhất 65% và 75% trong Luật DN là không hợp lý, hạn chế quyền thỏa thuận của các chủ sở hữu.

Các quốc gia trên thế giới hiện nay, thông lệ quốc tế và Luật DN 1999 đều áp dụng tỷ lệ đa số tối thiểu 51% trong quản trị công ty. Chính vì vậy, lấy lý do bảo vệ cổ đông thiểu số để nâng tỷ lệ biểu quyết lên quá cao như Luật DN 2005 là không hợp lý, thậm chí nhiều trường hợp gây bế tắc trong hoạt động kinh doanh cho công ty.

Trên thực tế, có trường hợp một cổ đông sở hữu 15,5% đã ngăn cản hoạt động của công ty vì điều lệ quy định quyết định của ĐHCĐ được thông qua, nếu được 85% cổ phần có quyền biểu quyết chấp thuận. Hiện nay nhiều công ty niêm yết không triệu tập được do không đủ 65% số cổ phần đến dự họp.

Quang Minh

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Góc chuyên gia

Chính sách

105 TTHC Bộ Tài chính thực hiện qua dịch vụ bưu điện

(ĐTTCO)- Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc công bố danh mục thủ tục hành chính có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.