Trung Quốc khát tiền mặt (K2): Có phải khủng hoảng?

“Chúng ta đang trở lại năm 2008” là khẳng định của hãng Fiscal Times hôm 24-6 khi nói về cơn khát tiền mặt của Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu nền kinh tế Trung Quốc có tồn tại nhiều vấn đề như Hoa Kỳ năm 2008? Và các nhà chức trách đang hành động đúng?

Trung Quốc khát tiền mặt (K1): Nền tảng bất ổn

Giống và khác

Nền kinh tế Trung Quốc tồn tại nhiều yếu tố bất ổn: tín dụng tăng quá nhanh so với GDP, bất động sản phát triển quá nóng, đặc biệt ở các thành phố duyên hải, cộng với vay tràn lan khiến Trung Quốc hiện nay có một số tương đồng với Hoa Kỳ cách đây 5 năm. Tuy nhiên, tình hình ở Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt. Nước này có tỷ lệ tiết kiệm cao bất thường, không như Hoa Kỳ vào năm 2008.

Trung Quốc đã quá vội vàng khi ồ ạt đầu tư cho các công trình hạ tầng, đến nỗi một số trung tâm mua sắm đã phải bỏ hoang, nhiều “thành phố ma” xuất hiện và các nhà phát triển bất động sản đang khốn đốn.

Các ngân hàng Trung Quốc cũng bị quy định không được cho vay vượt quá 75% tiền gửi. Một điểm đáng chú ý khác, Trung Quốc là một trong số ít nước cho đến nay đã tuân thủ các quy định Basel 3 về vốn ngân hàng. Quan trọng hơn, nhà nước hiện đã sở hữu những ngân hàng lớn nhất.

Điều đó có nghĩa khi mọi thứ trở nên tồi tệ hơn, họ không cần phải quốc hữu hóa, mà chỉ việc lệnh cho các ngân hàng tiếp tục cho vay, trong khi nhà nước quyết định vốn được phân phối như thế nào và khi nào. Nói cách khác, nhà nước có thể đóng vai trò tòa án phá sản cho nền kinh tế, kiểm soát tín dụng, giữ việc lây lan trong trật tự và trên hết là bảo toàn giá trị của nền kinh tế.

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng tiền mặt của Trung Quốc cũng khác. Năm 2008, thị trường liên ngân hàng ở Hoa Kỳ bị đông cứng vì các ngân hàng từ chối cho vay lẫn nhau, trong khi Trung Quốc do Ngân hàng Trung ương (PBOC) từ chối cho vay. Dù nhu cầu tiền mặt của nhiều ngân hàng cuối quý tăng mạnh, PBOC vẫn bình chân như vại, để mặc lãi suất liên ngân hàng tăng vọt và bày tỏ quyết tâm siết các hoạt động cho vay quá trớn.

Đòn trừng phạt?

Giới phân tích cho rằng để lãi suất liên ngân hàng tăng vọt là biện pháp hiệu quả để trừng phạt các nhà cho vay vung tay quá trán, cũng là một thông điệp mạnh mẽ cho những chính quyền địa phương tiêu xài phung phí. Nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro vì không chỉ có các ngân hàng xấu bị trừng phạt. Sự ậm ừ của PBOC đã gây tổn hại niềm tin vào hệ thống ngân hàng, làm bùng lên tin đồn các ngân hàng phá sản và ATM cạn tiền.

Trung Quốc khát tiền mặt (K2): Có phải khủng hoảng? ảnh 1

Quyết tâm siết lại tín dụng của PBOC có thể khiến Trung Quốc tăng trưởng chậm lại đáng kể.

Tin từ trang Caixin Online ngày 26-5 cho biết 2 trong số 4 ngân hàng lớn nhất Trung Quốc là Bank of China và Industrial and Commercial Bank of China (ICBC) đã ngưng cho vay ở một số chi nhánh. Hệ thống chuyển tiền của Bank of China tạm ngừng hoạt động hôm 24-6.

Hôm 23-6, hệ thống máy ATM và POS trên toàn quốc của ICBC cũng ngưng hoạt động. Ngày 24-6, các thị trường chứng khoán Trung Quốc lao dốc thảm hại, chỉ số tổng hợp Thượng Hải rớt 5,3%.

Giới phân tích cho rằng việc đầu tiên Bắc Kinh cần làm hiện nay là dọn dẹp hệ thống tài chính và tái cân bằng nền kinh tế. Để ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi sẽ buộc họ phải rút về bớt dòng vốn đang đổ vào hệ thống ngân hàng ngầm. Triển khai bảo hiểm tiền gửi sẽ giúp người dân lựa chọn giữa tiền gửi được bảo hiểm và tiền gửi không có bảo hiểm trong hệ thống ngân hàng ngầm.

Chính phủ cũng cần hạ nhiệt những ngành tăng trưởng quá nóng và tự do hóa một số ngành. Chẳng hạn, áp đặt thuế tài sản hàng năm theo giá trị thị trường đối với nhà ở để giảm đầu cơ bất động sản, khuyến khích tư nhân đầu tư đường sắt, viễn thông...

Tác động không nhỏ

Cho đến nay, cơn khát tiền mặt ở Trung Quốc đã dịu lại nhờ can thiệp kịp thời của PBOC, nhưng chủ trương thắt chặt tín dụng của PBOC có 2 ý nghĩa.

Thứ nhất, các nhà chức trách Trung Quốc quyết định hy sinh 1 trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất, được triển khai mạnh mẽ từ sau cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008. Đó là việc thúc đẩy tín dụng mạnh mẽ để cấp ngân sách cho đầu tư và kích thích tăng trưởng kinh tế để chống lại những tác động từ cuộc khủng hoảng.

Một khi đòn bẩy tín dụng không thể được dùng mạnh mẽ như trước, khả năng duy trì vị thế là đầu tàu tăng trưởng toàn cầu của Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng. Điều đó không chỉ tác động tới Trung Quốc mà còn ảnh hưởng đến toàn thế giới, đặc biệt với các nước phương Tây vẫn chưa tìm ra được con đường hồi phục bền vững từ sau cuộc khủng hoảng.

Tác động này còn được cộng thêm từ việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) đang có dấu hiệu cắt giảm những biện pháp kích thích tiền tệ.

Thứ 2, việc giảm tín dụng có thể dẫn đến sự sụp đổ giá tài sản, phá sản lan rộng, làm tê liệt các ngân hàng và cả hệ thống tài chính. Đây cũng là nguy cơ tiềm ẩn của Trung Quốc nhiều năm qua, khi nước này bắt đầu thử nghiệm cơ chế tăng trưởng bằng cách đầu tư quá mức.

Đầu tư ở Trung Quốc tương đương một nửa GDP, cao gấp 3 lần so với Anh và cao hơn 50% so với Nhật Bản trước khi bị rơi vào giảm phát cách nay 1/4 thế kỷ. Dĩ nhiên, quá trình hiện đại hóa ở Trung Quốc đòi hỏi phải phát triển đường bộ, đường sắt, sân bay và những tòa tháp thương mại, trung tâm mua sắm...

Văn Cường

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chính sách kiểm soát vốn của Trung Quốc (Kỳ 1)

Chính sách kiểm soát vốn của Trung Quốc (Kỳ 1)

(ĐTTCO) - LTS: “Sự trỗi dậy của Trung Quốc” đang là tâm điểm của quốc tế hiện nay, không chỉ trong công luận mà còn trong giới học thuật. Trong khi một số học giả cho rằng Trung Quốc đang thách thức “trật tự tự do” của phương Tây, một số học giả khác lại không tin quốc gia này có khả năng gây ra tác động mang tính hệ thống.

Bình luận

Bất bình đẳng kinh tế - vấn đề lớn của EU

(ĐTTCO) - Dù đã 4 thập kỷ áp dụng chính sách gắn kết xã hội nhằm hạn chế chênh lệch phát triển giữa các vùng trong Liên minh châu Âu (EU), sự cách biệt giữa các khu vực dường như ngày càng trầm trọng sau tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008.

Thế giới muôn màu