Nhập siêu - Căn bệnh trầm kha: Kỳ 1: Con dao 2 lưỡi

Trong thời buổi toàn cầu hóa, bất kỳ nền kinh tế nào muốn phát triển đều phải dựa vào hoạt động ngoại thương, tức xuất và nhập khẩu. Khi kim ngạch nhập khẩu cao hơn xuất khẩu trong một thời gian nhất định, đó là nhập siêu. Nhập siêu là hiện tượng phổ biến ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Ngay như Hoa Kỳ, nền kinh tế số 1 hành tinh, cũng chịu cảnh nhập siêu trong suốt 3 thập niên qua.

Xét trên nhiều phương diện, nhập khẩu ở một chừng mực nào đó sẽ có lợi cho nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước trong giai đoạn đang phát triển. Tuy nhiên, nhập siêu quá cao sẽ tác động xấu đến nền kinh tế.

Thúc đẩy phát triển

Tính đến cuối những năm 90, hầu hết nền kinh tế ASEAN mở cửa trước Việt Nam như Thái Lan, Singapore, Malaysia... đều chịu cảnh nhập siêu, trong đó Thái Lan nhập siêu đến 13,3% GDP (năm 1997). Các nước này rơi vào tình trạng nhập siêu do nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội.

Nhập siêu - Căn bệnh trầm kha: Kỳ 1: Con dao 2 lưỡi ảnh 1

Người biểu tình cập nhật số tiền nợ công Chính phủ Hoa Kỳ
đã vượt qua ngưỡng 14.000 tỷ USD ngày 5-4.

Đối với kinh tế, việc nhập khẩu công nghệ, máy móc trang thiết bị cao cấp giúp nâng cao trình độ kỹ thuật, tiến gần trình độ phát triển cao của thế giới, nhờ đó tạo ra các sản phẩm xuất khẩu có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao. Trong điều kiện ngành sản xuất nguyên liệu cao cấp trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu nguyên liệu giúp các nước thực hiện tốt chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về xuất khẩu. Hàng nhập khẩu trong nhiều trường hợp tạo môi trường cạnh tranh kích thích sản xuất trong nước hoàn thiện và phát triển.

Nhập khẩu từ nguồn vốn ODA của các tổ chức tài chính quốc tế giúp cải thiện mau chóng hạ tầng cơ sơ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. Đối với xã hội, việc nhập khẩu hàng tiêu dùng, sản phẩm khoa học và văn hóa còn góp phần phát triển nguồn nhân lực và nâng cao mức sống người dân. Nhập khẩu từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp chẳng những góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trương kinh tế còn tạo thêm công ăn, việc làm và cải thiện đời sống người dân.

Nguyên nhân khủng hoảng?

Tuy nhiên, giới chuyên gia kinh tế cũng cảnh báo những hiểm họa của tình trạng nhập siêu lớn. Chẳng hạn, nhập khẩu tràn lan vượt quá kiểm soát của chính phủ sẽ dẫn tới hiện tượng lãng phí ngoại tệ, tác động xấu đến sản xuất trong nước. Việc nhập khẩu hàng tiêu dùng quá nhiều sẽ dẫn tới xu hướng “sùng ngoại”, khiến hàng nội địa khó tiêu thụ hơn. Quan trọng hơn, nhập siêu thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng cạn kiệt ngoại tệ, khiến các chính phủ phải gia tăng vay nợ bằng cách phát hành thêm trái phiếu. Trong một thời gian dài, nhập siêu sẽ khiến con số nợ công của một nước ngày càng tăng, vì suy cho cùng các nước đều phải dựa vào xuất khẩu để trả nợ và lãi.

Thí dụ, nhập siêu đã gây ra khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp, khi năm 2009 nước này nhập siêu tới 13,5% GDP, dẫn đầu top các nền kinh tế nhập siêu tính theo tỷ lệ GDP. Nước này đã rơi vào cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ nhất châu Âu kể từ đầu năm 2010 và cho đến nay tình hình vẫn chưa cải thiện, dù đã nhận được các gói ứng cứu từ bên ngoài. Hoặc như trường hợp của Hoa Kỳ, nước có kim ngạch nhập siêu tuyệt đối (tính bằng USD) lớn nhất. Hiện nước này đã chạm trần nợ công và có nguy cơ vỡ nợ tạm thời nếu Chính phủ và Quốc hội không đạt được thỏa thuận nâng trần nợ trước ngày 2-8. Ngoài ra, một số nhà chuyên môn tin rằng nhập siêu lớn là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998.

Gia tăng thất nghiệp

Một nghiên cứu của TS. Alec Feinberg, sáng lập viên Citizens for Equal Trade, khi gắn nhập siêu với tỷ lệ thất nghiệp. Dựa trên những dữ liệu từ 25 nước có mức nhập siêu và xuất siêu lớn nhất thế giới (trong giai đoạn 2009-2010), nhóm nghiên cứu của TS. Feinberg cho biết tỷ lệ tác động tới thị trường việc làm của tình trạng nhập siêu dao động 60-72%. Những nước nhập siêu cao có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn và ngược lại. TS. Feinberg cũng lưu ý Hoa Kỳ là nước có mức nhập siêu tính theo giá trị USD lớn nhất thế giới, với 633 tỷ USD (năm 2010), lớn hơn giá trị kim ngạch nhập siêu của các nước nhập siêu còn lại trong top 10 cộng lại. Hoa Kỳ có tỷ lệ thất nghiệp 9,6% (tại thời điểm thực hiện nghiên cứu). Trong khi đó, Trung Quốc có thặng dư thương mại tới 296 tỷ USD vào năm 2009 và có tỷ lệ thất nghiệp chỉ 4,3%.

Nhấn chìm TTCK

Đối với TTCK, nhập siêu kéo dài có thể gây nên những hậu quả tai hại. Theo đó, nếu trong thời gian dài một đất nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn xuất khẩu, sẽ lâm vào cảnh nợ nần, trong khi hàng hóa nội địa ngày càng bị hàng ngoại lấn át. Qua thời gian, giới đầu tư sẽ nhận thấy tình trạng suy yếu trong tiêu thụ hàng hóa nội địa, một diễn biến gây tổn hại cho các nhà sản xuất trong nước và cũng làm suy giảm giá trị cổ phiếu của họ. Thời gian càng kéo dài, giới đầu tư càng nhận ra cơ hội đầu tư tốt ở thị trường nội địa ít đi, họ bắt đầu chuyển hướng sang các thị trường cổ phiếu nước khác. Điều đó sẽ làm giảm nhu cầu đối với thị trường cổ phiếu trong nước, khiến thị trường đi xuống.

Riêng tại Hoa Kỳ, dù là nước có kim ngạch nhập siêu khổng lồ nhưng TTCK của họ vẫn tăng (so với đầu năm). Xét theo tỷ lệ GDP, nhập siêu của Hoa Kỳ chỉ chiếm 4,3% (năm 2010), nhỏ hơn gần 3 lần so với tỷ lệ 12% của Việt Nam. Ngoài ra, TTCK Hoa Kỳ vẫn có sức hút vì có tới hơn 70% báo cáo doanh thu của các công ty cao hơn dự báo, trong khi giới đầu tư quốc tế và các nước vẫn tiếp tục mua vào USD vì đã trót nắm quá nhiều tài sản bằng USD và không muốn nó sụp đổ. Dù vậy, tính đến ngày 8-6, TTCK Hoa Kỳ vẫn đang ở trong đợt rớt điểm kéo dài gần 6 tuần lễ, lâu nhất kể từ năm 2004 đối với chỉ số Dow Jones Industrial Average.

---------------

Kỳ 2: kinh nghiệm chống nhập siêu

VĂN CƯỜNG

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc(K1): Định chế hoạt động ngân hàng

Chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc(K1): Định chế hoạt động ngân hàng

(ĐTTCO) - Hoạt động ngân hàng Trung Quốc có khác biệt đáng kể so với phương Tây. Để hiểu được lập trường của Trung Quốc trong việc tham gia thiết lập các định chế ngân hàng quốc tế, cần tìm hiểu sự phát triển của định chế này, phân tích cách thức tổ chức mang tính chất kinh tế -chính trị khác biệt của Trung Quốc.