Lung lay giá trị toàn cầu hóa (K2): Cuộc đua không cân sức

(ĐTTCO) - Thực tế lịch sử cho thấy dù chúng ta ủng hộ hay không ủng hộ toàn cầu hóa (TCH), đó vẫn là xu thế tất yếu. 
TCH không chỉ là tiến trình kinh tế mà còn là sự phản ánh những khát vọng vươn xa, mưu cầu hạnh phúc và chinh phục thử thách của loài người. Song TCH có cả tác động tiêu cực. Vậy TCH bắt đầu cho thấy mặt trái của nó từ khi nào?
Những dấu hiệu đầu tiên
 Không phải quốc gia nào cũng khai thác, tận dụng được các mặt tích cực của TCH, chỉ những nước phát triển mới thụ hưởng được những lợi thế đó. TCH tạo cơ hội mở rộng thị trường, tạo ra sự canh tranh gay gắt, song là cuộc chạy đua không cân sức giữa các nước giàu, các tập đoàn tư bản khổng lồ với các nước kém phát triển.
GS. Amartya Sen,
Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Kinh tế
 
Từ rất sớm, các nhà kinh tế học đã quen với khái niệm phổ biến là thị trường và con người trên toàn cầu ngày càng trở nên gắn kết với nhau hơn. Theo Adam Smith - cha đẻ của thuyết "bàn tay vô hình", một trong những người khởi xướng chủ nghĩa tự do kinh tế - nguyên tắc cơ bản của phát triển kinh tế là sự hòa nhập giữa các thị trường.
Sự phân chia công việc giúp mở rộng sản xuất, đồng thời sự chuyên nghiệp hóa giúp mở rộng thương mại và vì thế các cộng đồng trên thế giới dần sát lại với nhau. Khuynh hướng này đã xuất hiện từ buổi đầu lịch sử văn minh của loài người.
Khi các làng xã, thị trấn, quốc gia và lục địa bắt đầu trao đổi hàng hóa họ sản xuất lấy những gì họ không giỏi làm ra, các thị trường xích lại gần nhau hơn, cùng lúc với quá trình chuyên nghiệp hóa. Tiến trình miêu tả bởi Adam Smith rất giống cái gọi là "TCH", cho dù vào thời của ông, còn phụ thuộc giới hạn địa lý.
Bên cạnh đó, Adam Smith đặc biệt quan tâm đến sự hòa nhập thị trường giữa châu Âu và châu Mỹ. Theo ông, việc Colombus phát hiện ra châu Mỹ năm 1492 đã tạo ra sự phân chia lao động xuyên lục địa khi những thổ dân châu Mỹ chuyên săn bắn đổi da thú lấy chăn, vũ khí và rượu của người châu Âu. Adam Smith còn cho rằng một trong những thay đổi kinh tế mãnh liệt nhất là việc tìm ra châu Mỹ - nơi có vô số mỏ vàng, bạc với trữ lượng lớn.
Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học hiện đại không đồng tình với luận điểm của Adam Smith. Kevin O’Rourke và Jeffrey Williamson, trong một bài báo viết năm 2002, khẳng định TCH thực sự mới chỉ bắt đầu vào thế kỷ 19, khi giá thành vận chuyển giảm đột ngột, cho phép tương đồng giá thành hàng hóa ở châu Âu và châu Á.
Việc Columbus phát hiện ra châu Mỹ hay Vasco Da Gama tìm được đường sang châu Á qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi), theo 2 nhà nghiên cứu này, không có tác động quan trọng nào tới giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, họ đã quên mất điều căn bản là các đồng tiền ở châu Âu chủ yếu dựa trên giá trị của bạc và bất cứ thay đổi nào trong giá trị của bạc sẽ tác động mạnh lên giá thành hàng hóa.
Từ những thí dụ trên, có thể khẳng định các dấu hiệu đầu tiên của TCH đã có từ rất lâu trong lịch sử. Tuy nhiên, giai đoạn nền kinh tế được TCH một cách đúng nghĩa mới bắt đầu từ thế kỷ 20, khi các nước châu Âu thuộc địa hóa châu Á, biến nơi đây thành nơi cung cấp nguyên liệu thô cho các nhà sản xuất châu Âu và là nơi tiêu thụ hàng hóa sản xuất ở mẫu quốc. Theo GS. Jeffry Frieden thuộc Đại học Havard , những năm đầu của thế kỷ 20 đã có những dấu hiệu gần nhất của thị trường thế giới tự do trao đổi hàng hóa, tài chính và nhân lực.
Lung lay giá trị toàn cầu hóa (K2): Cuộc đua không cân sức ảnh 1 TCH làm tăng chênh lệch giàu nghèo? 

Giai đoạn vàng
Sau cuộc khủng hoảng những năm 1930, nhiều nước hướng tới chủ nghĩa bảo hộ nhằm bảo vệ thương mại quốc gia khỏi cạnh tranh từ các quốc gia khác bằng các biện pháp thuế quan hay phi thuế quan. Từ góc độ của các nhà tự do kinh tế, chủ nghĩa bảo hộ luôn bị coi là "xấu" vì nó ngăn cản sự phát triển kinh tế. Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, dưới sự tác động của các nhà kinh tế theo chủ nghĩa tự do, các nước lại bắt đầu hướng tới nền kinh tế tự do trao đổi.
Với Hiệp ước Bretton Woods - khởi đầu cho hệ thống tài chính quốc tế và Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) - tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - làn sóng TCH đã trở nên rõ rệt. Ở Hoa Kỳ, những năm tháng dưới quyền Tổng thống John Kennedy đánh dấu sự khởi đầu cho giai đoạn này. Ở châu Âu, đó là sự ra đời của thị trường chung. Theo Dani Rodrik, nhà kinh tế học giảng dạy tại Đại học Harvard từ năm 1944-1990, thương mại thế giới tăng trưởng ở mức 7% - đây chính là giai đoạn vàng của TCH.
Một sự thay đổi lớn đã diễn ra vào những năm 1980. Ở phương Tây, tình trạng kinh tế tăng trưởng chậm và lạm phát đã dẫn đến những thay đổi quan trọng về chính trị. Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và Tổng thống Mỹ Ronald Reagan - 2 nhà lãnh đạo chính trị cấp tiến ủng hộ tự do thương mại - lên nắm quyền tại 2/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc những tư tưởng tự do "siêu TCH" bắt đầu lan tỏa tại các thể chế kinh tế toàn cầu như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và WTO.
Tòa án của WTO có quyền tác động tới các quốc gia trong chính sách thuế, môi trường và điều tiết thị trường. Những ràng buộc trong khuôn khổ của tổ chức này không mang lợi ích tới mọi quốc gia, cũng như tới mọi người dân. Đây chính là khởi đầu của bước ngoặt trong quá trình TCH, và sự thoái trào của nó đang dần trở nên rõ ràng hơn.

Tầm nhìn chính sách quốc gia
Phiên bản thuần túy nhất của "siêu TCH" chính là Thỏa thuận Washington, trong đó các nước châu Mỹ Latin được vay tiền của IMF, đổi lại, họ phải giảm hàng rào thuế quan và cho phép tư nhân hóa một loạt ngành công nghiệp do Nhà nước nắm phần lớn. Sự tự do hóa này mang lại những kết quả tích cực.
Năm 1995, 2 nhà nghiên cứu Jeffrey Sachs và Andrew Warner kết luận: “Không có thí dụ nào cho thấy một quốc gia mở cửa kinh tế lại thất bại". Tuy nhiên, giai đoạn thịnh vượng này không kéo dài hay gắn liền với ổn định chính trị. Từ cuối những năm 1990 đến giữa những năm 2000, người dân ở các nước Mỹ Latin liên tục phản đối các ý định tư hữu hóa một số ngành cơ bản như gas, nước. N
ăm 2002 tại Argentina, cuộc khủng hoảng tồi tệ đã diễn ra làm phe cánh hữu cầm quyền, vốn ủng hộ tư hữu hóa hơn nữa, thất thế trên chính trường. Tại nhiều nước khác trong khu vực, phe cánh tả cũng bắt đầu lên ngôi, kết quả từ sự phản ứng của người dân trước những tác động tiêu cực của việc tư hữu hóa quá mức nền kinh tế.
Theo Dani Rodrik, TCH đã có nhiều thay đổi, giờ đây nó đang biến thành một hệ thống "rối loạn và không mang lại sự bình đẳng". Nhà nghiên cứu này cho rằng chỉ có các nước châu Á là thực sự hưởng lợi từ TCH. Tại các nước này, số lượng người dân trung lưu nhờ vào TCH đã tăng mạnh mẽ. Giáo sư kinh tế Richard Baldwin chỉ ra các nước hưởng lợi nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan. Ngoài ra, một số nước khác, trong đó có Việt Nam, cũng nhờ vào TCH mà thay đổi tích cực. 
Từ 30 năm nay, TCH đã khiến tình trạng chênh lệch giàu nghèo tăng cao, đặc biệt là tại các nước phát triển như Hoa Kỳ và Anh - nơi các biến động chính trị gần đây - đã thể hiện rõ sự không hài lòng của người dân.
Tuy nhiên, cũng đừng quên rằng TCH đã giúp nhiều nước thoát nghèo, giúp họ tận dụng các lợi thế cạnh tranh để phát triển kinh tế. TCH, ích lợi hay không, điều đó phụ thuộc vào chính sách quốc gia nhằm thu lợi ích lớn nhất và giảm đi tác động tiêu cực nhất của nó. TCH làm cho thế giới giàu có hơn về mặt khoa học và văn hóa, đồng thời đem lại lợi nhuận kinh tế cho rất nhiều người. Liên hiệp quốc cũng dự đoán TCH có khả năng giúp xóa nghèo trên toàn thế giới vào thế kỷ 21. 

Đức Huy

Tin liên quan

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc(K1): Định chế hoạt động ngân hàng

Chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc(K1): Định chế hoạt động ngân hàng

(ĐTTCO) - Hoạt động ngân hàng Trung Quốc có khác biệt đáng kể so với phương Tây. Để hiểu được lập trường của Trung Quốc trong việc tham gia thiết lập các định chế ngân hàng quốc tế, cần tìm hiểu sự phát triển của định chế này, phân tích cách thức tổ chức mang tính chất kinh tế -chính trị khác biệt của Trung Quốc.