Đặc khu kinh tế - lực đẩy đột phá (K1): Cú hích phát triển kinh tế

(ĐTTCO) - LTS: Ngoài việc “cởi trói” doanh nghiệp, các cơ chế-chính sách vượt trội tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội cũng là điều kiện quan trọng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay. 
Theo nghị trình dự kiến, ngày 10-11, Dự thảo Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt (đặc khu) sẽ lần đầu tiên được đệ trình Quốc hội xem xét. Nói về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch-Đầu tư Nguyễn Văn Trung trăn trở: Đặc khu kinh tế ở nước ta được bàn thảo đầu tiên từ năm 1992 nhưng 20 năm qua vẫn chưa hình thành để trở thành cực tăng trưởng năng động cho đất nước. Muốn giấc mơ đặc khu thành hiện thực phải thiết lập nền tảng quan trọng: Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt.
Xu hướng của thế giới
 Đặc khu hành chính-kinh tế phát triển thành công đã tạo nên một khu vực động lực kinh tế tầm vóc quốc gia và quốc tế, biến khu vực có đặc khu trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, kinh doanh dịch vụ và du lịch đẳng cấp thế giới. Thực tế tại các quốc gia thành công cho thấy, đặc khu hành chính - kinh tế góp phần cải cách mạnh mẽ chế độ phát triển kinh tế của quốc gia, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, biến những vùng đất trước đó lạc hậu, kém phát triển thành những khu vực văn minh, hiện đại, giàu có, năng động. 
Để đón đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, một số quốc gia như Đức, Hoa Kỳ... đã bắt đầu triển khai nghiên cứu xây dựng mô hình thành phố công nghiệp-công nghệ cao thông minh. Mô hình này được xây dựng nhằm hỗ trợ cho việc chuyển đổi từ tự động hóa sản xuất công nghiệp dựa trên việc ứng dụng công nghệ điện tử và thông tin sang hệ thống sản xuất được kết nối qua môi trường mạng không dây. 
Như vậy, có thể thấy nhiều quốc gia đã và đang phát triển các đặc khu kinh tế và các mô hình tương tự khác đều có sự điều chỉnh linh hoạt chính sách theo hướng tạo điều kiện tối đa xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, đặc biệt thuận lợi cho nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
Trọng tâm thu hút đầu tư và phát triển cũng được điều chỉnh theo hướng tập trung vào các ngành tài chính, ngân hàng, thương mại, giáo dục, y tế, công nghệ cao và kỹ thuật mới để đón đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; dịch vụ logistics cảng biển, hàng không, du lịch...
Để thúc đẩy phát triển các ngành này, các quốc gia cũng đều áp dụng đa dạng các cơ chế, chính sách đặc thù về kinh tế - xã hội và hành chính như: hỗ trợ ngân sách nhà nước, áp dụng miễn, giảm các loại thuế, tiền thuê đất, thời gian thuê đất, thuê hạ tầng, miễn thị thực visa, chính sách đăng ký kinh doanh, hải quan, thuế thuận lợi…
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý đặc khu kinh tế đều được giao thẩm quyền mạnh mẽ theo hướng “một cửa, tại chỗ”.
Đến nay thế giới có nhiều mô hình “khu” với nhiều tên gọi khác nhau như  khu kinh tế (KKT), KKT tự do, KKT đặc biệt hay đặc khu kinh tế (ĐKKT),  đặc khu hành chính (ĐKHC), với những nội hàm khác nhau. Các nghiên cứu trên thế giới cũng chưa thống nhất được khái niệm và phân biệt rõ ràng các loại hình nói trên. Song, có thể rút ra đặc điểm chung, gồm: (i) Có ranh giới địa lý xác định; (ii) được áp dụng các cơ chế, chính sách riêng về hành chính và kinh tế. 
Tùy theo từng loại hình và từng quốc gia khác nhau, các “khu” được xác định với những đặc điểm riêng và mức độ “mở” của chính sách về kinh tế và hành chính khác nhau. Trong đó “KKT đặc biệt” hay “ĐKKT” là mô hình mới phát triển sau (từ cuối thế kỷ 20). Đây là mô hình kế thừa và phát triển của các mô hình KKT thông thường. Trung Quốc được coi là nơi đánh dấu sự ra đời của ĐKKT và là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc phát triển mô hình ĐKKT.
ĐKKT ở mỗi quốc gia có đặc điểm và quy định riêng, tuy nhiên trong các tài liệu đều thống nhất định nghĩa ĐKKT là khu vực được phân định ranh giới địa lý rõ ràng và được bảo đảm về mặt an ninh; có cơ chế quản lý và hành chính riêng biệt; là khu vực được hưởng các ưu đãi vượt trội về thuế, hải quan và có các đặc quyền cụ thể (FIAS, 2008).
Để trở thành ĐKKT thông thường phải có các ưu thế, đặc điểm cơ bản nổi bật:  Có lợi thế so sánh về vị trí địa lý, gần cảng biển quốc tế, các tuyến giao thông quan trọng của đất nước; có nhiều tiềm năng phát triển toàn diện kinh tế-xã hội.
Có thể chế hành chính, kinh tế riêng theo chuẩn mực quốc tế như: bãi bỏ các hàng rào bảo hộ thuế và phi thuế quan; miễn thị thực nhập cảnh cho khách du lịch, kinh doanh; cho phép cư trú lâu dài đối với các nhà kinh doanh, quản lý, kỹ thuật; mức thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hấp dẫn; cho phép tự do kinh doanh trên tất cả các lĩnh lực trừ một số lĩnh vực cấm; cho phép thực thi chế độ tự quản về hành chính, trong đó tách biệt các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; chính quyền Trung ương chỉ nắm quyền thống nhất quản lý về an ninh, quốc phòng và đối ngoại. ĐKKT hoàn toàn mở cửa đối với thế giới bên ngoài và là nơi thử nghiệm các ý tưởng cải cách, đổi mới.

Xác định mô hình
So với các mô hình KKT thông thường (trong đó có cả KCN, KCX, KCNC), ĐKKT thể hiện tính chất ưu việt hơn trên các mặt: (i) ĐKKT có quy mô diện tích rộng lớn, hội tụ các yếu tố lợi thế về vị trí địa lý, giao thông, có các điều kiện thuận lợi để “mở cửa”, hội nhập nhanh với kinh tế thế giới.
Đặc khu kinh tế - lực đẩy đột phá (K1): Cú hích phát triển kinh tế ảnh 1 Đặc khu kinh tế Thượng Hải (Trung Quốc) triển khai thành công đã làm biến đổi "Phố Đông", trở thành một trung tâm kinh tế-tài chính tầm cỡ thế giới. 
Do đặc tính là KKT tổng hợp gồm nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế và có dân cư sinh sống nên quản lý trong ĐKKT không chỉ đơn thuần là quản lý kinh tế mà còn quản lý hành chính tương tự như các đơn vị hành chính độc lập khác. (ii) ĐKKT được Nhà nước trao quyền tự chủ cao hơn, linh hoạt hơn về mặt hành chính và kinh tế so với các mô hình khác và được quy định tại các văn bản pháp luật. Chính quyền của ĐKKT được trao quyền điều hành mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. (iii) ĐKKT là địa bàn được hưởng những cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt, nhất là chính sách về thuế để thúc đẩy phát triển nhanh công nghiệp, thương mại và dịch vụ. 
Từ kinh nghiệm quốc tế và tổng hợp các mô hình ĐKHC, ĐKKT, KKT tự do và các mô hình tương tự khác (gọi chung là đặc khu) đã được xây dựng và phát triển ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có thể phân theo ba cấp độ gắn với thể chế và chính sách khác nhau, như sau:
Cấp độ III, Đặc khu có hệ thống chính trị, thể chế kinh tế và hành chính độc lập, khác biệt so với các khu vực khác của đất nước. Chính quyền Trung ương chịu trách nhiệm về mặt quốc phòng và ngoại giao, không can thiệp vào việc quản lý, điều hành đặc khu. Đặc khu có tính tự trị cao với mức tự do hóa vượt trội trên mọi lĩnh vực, trừ lĩnh vực quốc phòng và ngoại giao. Nhà nước có phạm vi nhỏ, không can thiệp sâu vào hoạt động thị trường và xã hội dân sự. Điển hình của mô hình này là ĐKHC Hồng Công, ĐKHC Macau (Trung Quốc) và Quần đảo Caymays (Vương quốc Anh). 
Cấp độ II, Đặc khu có thể chế kinh tế và hành chính độc lập, tự do và vượt trội hơn so với các khu vực khác của đất nước. Chính quyền đặc khu được phân cấp thẩm quyền trên tất cả các lĩnh vực, trừ lĩnh vực quốc phòng và ngoại giao và được điều chỉnh theo Luật riêng. Các đặc khu này được áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính, xuất nhập khẩu để tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động kinh doanh. Điển hình của mô hình này là Thành phố quốc tế  tự do Jeju, Hàn Quốc và tỉnh tự trị Trento, Italia.
Cấp độ I, Đặc khu được Chính phủ trao quyền tự chủ cao hơn, linh hoạt hơn các quy định của các văn bản pháp luật hiện hành quy định cho cả nước. Chính quyền đặc khu được trao quyền điều hành mọi hoạt động kinh tế-xã hội trên địa bàn đặc khu. Đặc khu được hưởng những quy chế, chính sách mang tính chất ưu đãi đặc biệt, nhất là chính sách miễn thuế để thúc đẩy phát triển nhanh công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Điển hình của mô hình này là các ĐKKT Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu, Hạ Môn... của Trung Quốc; KKT tự do Incheon, Busan-Jinhae... của Hàn Quốc; Trung tâm tài chính quốc tế Dubai của UAE.
Các cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức do các tỉnh đề xuất áp dụng cho 3 đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc tương đương cấp độ I.

Tác động lan tỏa sâu rộng
Về mặt chính trị, ở các quốc gia đã phát triển thành công ĐKKT như Trung Quốc và Hàn Quốc, đặc biệt là quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, ĐKHC, ĐKKT đã thể hiện sự thay đổi lớn của Nhà nước trong tư duy về phát triển kinh tế, khẳng định tính phù hợp, đúng đắn của chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước qua đó xây dựng được lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, của Nhà nước. Các ĐKKT của Trung Quốc, Hàn Quốc, UAE đã trở thành hình mẫu trong phát triển của thế giới, qua đó đã nâng cao vị thế mình trên trường quốc tế. 
Về xã hội, đặc khu hành chính - kinh tế là sự tổng hợp ở trình độ cao các phương diện kinh tế, xã hội, môi trường, y tế, giáo dục… Do đó, đặc khu hành chính - kinh tế sẽ là nơi thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (bao gồm cả cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật) cho nước sở tại. Mặt khác, các đặc khu hành chính - kinh tế thành công đồng nghĩa với việc đời sống của người dân trong vùng đặc khu có sự chuyển biến tích cực; người dân có đời sống cao hơn gắn liền với việc nâng cao lòng tin tưởng và ổn định trật tự xã hội.
Đặc khu hành chính - kinh tế thành công đã góp phần tạo lập niềm tin của nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường kinh doanh của quốc gia sở tại; nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Mặt khác, đặc khu hành chính - kinh tế đi vào hoạt động và khai thác có hiệu quả thì tác động lan tỏa tích cực sẽ rất lớn; kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hay cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho đặc khu; hỗ trợ các ngành kinh tế còn yếu và thiếu; đặc biệt là đặc khu sẽ trở thành một động lực để kéo theo các vùng kinh tế lân cận khác phát triển.  
Thực tế ở các quốc gia phát triển ĐKHC, ĐKKT cho thấy do thực thi một số chính sách ưu đãi miễn giảm về thuế, tài chính, nguồn thu của Nhà nước trong giai đoạn đầu có thể bị giảm. Tuy nhiên, xét về lâu dài lợi ích mà các đặc khu thành công mang lại là rất lớn về các mặt thu ngân sách, phát triển kết cấu hạ tầng, tạo nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ, sức lan tỏa hiệu quả đối với nhiều ngành, lĩnh vực, địa bàn của quốc gia. 
 Mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt dự kiến xây dựng ở Việt Nam là sự kết hợp giữa mô hình ĐKKT của Trung Quốc và mô hình ĐKHC, ĐKKT được phát triển ở Hàn Quốc. Theo đó, đơn vị hành chính - kinh tế là một khu vực có ranh giới địa lý xác định; có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi trong giao thương, dịch vụ trong nước và quốc tế; có cơ chế, chính sách đặc biệt ưu đãi cạnh tranh quốc tế, có cơ chế quản lý và hành chính riêng biệt và hiện đại; có môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi. Đây có thể được coi là một khu kinh tế - xã hội tổng hợp, trong đó áp dụng một khung pháp lý đặc thù về quản lý kinh tế và quản lý hành chính nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển - kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia phù hợp với thể chế chính trị, luật pháp, chế độ kinh tế xã hội của Việt Nam và nhất thiết phải cạnh tranh được với các mô hình của các quốc gia trong khu vực và quốc tế.
(còn tiếp)

Quang Huy

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất