Chính sách hậu khủng hoảng (K2): Khắc khổ hay kích thích?

Tốc độ lây lan đáng sợ của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 đã thúc đẩy các chính phủ hành động, bất chấp sự nghi ngờ về các học thuyết kinh tế. Một số nước dùng biện pháp kích thích kinh tế, trong khi nhiều nước (điển hình là EU) triển khai các gói thắt lưng buộc bụng.

> Chính sách hậu khủng hoảng (K1): Kiểm soát lãi suất

Học thuyết Keynes

Năm 2009, nhiều nước tung ra các gói cắt giảm thuế và tăng chi tiêu lớn với hy vọng sẽ vực được tăng trưởng. 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20) đã tung ra các chương trình kích thích kinh tế chiếm tới 2% GDP bình quân.

Những người ủng hộ kích thích dựa trên các lý luận của nhà kinh tế Anh John Maynard Keynes (1883-1946). Theo đó, suy thoái diễn ra khi nền kinh tế tiết kiệm quá lớn, quá nhiều người muốn tiết kiệm và quá ít người đầu tư, khiến các nguồn lực trở thành nhàn rỗi.

Các gói ứng cứu cũng chỉ có vai trò như biện pháp giúp ổn định thu nhập, từ đó ổn định lực cầu nền kinh tế... Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính gần 60% khoản nợ gia tăng của các chính phủ từ năm 2008 đến từ thất thu thuế, cao hơn 2 lần chi phí của các gói kích thích hoặc cứu trợ kinh tế cộng lại.

Theo thuyết Keynes, các chính phủ cần bù đắp khoản trống của các doanh nghiệp và hộ gia đình tạo ra bằng cách vay mượn và chi tiêu nhiều hơn (hoặc đánh thuế ít hơn) để đưa dòng vốn tiết kiệm ra hoạt động. Khi nền kinh tế bị chững lại, kích thích tài chính có thể đặc biệt hiệu quả nhờ các yếu tố nhân.

Chẳng hạn, 1USD chi tiêu xây dựng đường sắt có thể thêm tiền lương cho một công nhân xây dựng. Sau đó, người này mang thu nhập thêm đó mua hàng hóa, giúp người bán hàng có thêm thu nhập. Đến lượt ông này dùng thu nhập dôi dư đó để đi mua sắm. Mỗi USD kích thích có thể dẫn đến 2USD sản lượng. Điều đó cho phép các chính phủ có thể tạo ra đột phá lớn chỉ với chi phí tài chính vừa phải.

Tuy nhiên, kích thích tài chính sẽ làm tăng thêm chi phí các chính phủ phải chịu. Từ 2007-2010, các nước giàu chứng kiến tỷ lệ nợ công/GDP tăng đột biến từ 74% lên bình quân 101%. Nợ công của Anh đã tăng từ 44% GDP lên 79%, trong khi Hoa Kỳ tăng từ 66% GDP lên 98%.

Hy Lạp tăng 40 điểm phần trăm lên 148% GDP. Nhưng kích thích kinh tế không phải là lý do chính làm nợ chồng nợ. Sức ì lớn nhất đối với tài chính công đến từ việc thất thu thuế do lợi nhuận thấp và thất nghiệp cao.

Cân bằng nợ

Khi tăng trưởng hồi phục vào năm 2010, một số nhà lãnh đạo cho rằng đã đến lúc phải cắt giảm chi tiêu công. Nhưng có người lo ngại quá trình hồi phục quá mong manh sẽ không cho phép bất kỳ một chính sách thắt lưng buộc bụng nào.

“Củng cố tài chính” là điều ai cũng đồng tình, nhưng điều gây tranh cãi là nên bắt đầu khi nào. Anh đã nhanh chóng kết thúc kích thích kinh tế trong năm 2010 và đề ra kế hoạch cắt giảm trong những năm tiếp theo. Từ 2010-2013, chính phủ giảm 3 điểm phần trăm thâm hụt ngân sách "cấu trúc" (điều chỉnh các chi phí mang tính chu kỳ như ổn định tự động).

Một số nước Nam Âu cũng thực hiện cắt giảm sâu hơn khi cuộc khủng hoảng lan rộng. Ngược lại, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng chi tiêu công, cắt giảm thêm thuế để kích thích kinh tế. Và kết quả là thâm hụt cấu trúc ở Hoa Kỳ giảm chậm hơn.

Chính sách hậu khủng hoảng (K2): Khắc khổ hay kích thích? ảnh 1

Với cuộc khủng hoảng hiện tại, nên cứu trợ hay nên khắc khổ?
(Minh họa: Economist)

Tranh luận về các chính sách này xoay quanh 2 vấn đề. Thứ nhất, tác động nhân của chính sách. Những người hoài nghi cho rằng tác động nhân là thấp, cả kích thích kinh tế cũng như thắt lưng buộc bụng đều không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng hoặc việc làm.

Kích thích kinh tế chỉ đơn giản là hấp thụ các nguồn tài nguyên lẽ ra được các công ty tư nhân sử dụng. Hơn nữa, doanh nghiệp và hộ gia đình có thể sẽ tiết kiệm số tiền dôi dư nhờ gói kích thích, thay vì thúc đẩy nền kinh tế bằng cách chi tiêu nhiều hơn, vì cho rằng sự hào phóng của chính phủ chỉ là tạm thời và các hóa đơn thuế sẽ sớm tăng trở lại.

Thứ hai, với tỷ lệ thất nghiệp cao và nhu cầu vay tư nhân thấp, khả năng chính phủ sẽ lấn hoạt động tư nhân rất thấp. Thay vào đó, trong khi suy thoái đang diễn ra, với những gia đình mắc nợ do tài sản mất giá sẽ có sức ép phải trả nợ nhanh chóng. Một sự hỗ trợ từ kích thích kinh tế sẽ tăng tốc độ điều chỉnh tài chính, do đó giúp hồi phục nhanh hơn. Tuy nhiên, chính phủ các nước có thể đưa vào bao nhiêu nợ mà không làm hại nền kinh tế vẫn đang là câu hỏi chưa được trả lời thỏa đáng.

Đã có câu trả lời?

Thời gian đã bắt đầu có câu trả lời. Đầu năm ngoái, một nghiên cứu của McKinsey cho rằng Hoa Kỳ giảm nợ tài chính nhanh chóng hơn ở Anh và châu Âu. Cũng trong năm ngoái, IMF công bố một phân tích cho rằng thắt lưng buộc bụng tổn hại nhiều tới tăng trưởng hơn so với dự đoán.

IMF cho biết các chính phủ càng thắt lưng buộc bụng nhiều, tăng trưởng kinh tế càng thấp hơn nhiều so với dự đoán. Số nhân tác động từ cắt giảm chi tiêu có lẽ cao gấp 2 lần những gì các nhà nghiên cứu ban đầu giả định.

Thắt lưng buộc bụng của Tây Ban Nha giảm thâm hụt cơ cấu của chính phủ hơn 2 điểm phần trăm 2011-2012, nhưng đồng thời đẩy nền kinh tế rơi vào suy thoái, vay ròng của chính phủ tăng mạnh. Hồi tháng 4, nghiên cứu của Đại học Massachusetts cho thấy kết luận của Reinhart - Rogoff rằng tăng trưởng giảm mạnh khi nợ chạm 90% GDP là thiếu cơ sở.

Cho đến nay vẫn không có sự nhất trí về ngưỡng gây hại tới tăng trưởng của nợ. Nói như vậy không có nghĩa không cần lo lắng về vấn đề nợ công đang phình to. Nợ công quá nhiều có thể gây khủng hoảng nợ. Nó làm gia tăng lo ngại về khả năng thanh toán của một nước, khiến các chủ nợ yêu cầu lãi suất cao hơn. 

Văn Cường

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc(K1): Định chế hoạt động ngân hàng

Chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc(K1): Định chế hoạt động ngân hàng

(ĐTTCO) - Hoạt động ngân hàng Trung Quốc có khác biệt đáng kể so với phương Tây. Để hiểu được lập trường của Trung Quốc trong việc tham gia thiết lập các định chế ngân hàng quốc tế, cần tìm hiểu sự phát triển của định chế này, phân tích cách thức tổ chức mang tính chất kinh tế -chính trị khác biệt của Trung Quốc.