Béo bở công nghiệp dược phẩm (K2): Xu thế phát triển

Những năm gần đây, thế giới của các công ty dược phẩm đã có nhiều chuyển động mới, trong đó lộ rõ chiến lược đầu tư vào châu Á, tái cơ cấu hoạt động công ty, hợp tác - thôn tính, và sự xuất hiện của những tên tuổi trái ngành.

Chuyển hướng, tái cơ cấu

Từ năm 2011 bắt đầu lộ rõ khuynh hướng chiến lược phát triển của công nghiệp dược phẩm là đầu tư vào các thị trường mới có tiềm năng trong tương lai tại châu Á, nhất là ở Trung Quốc. Công ty Menarini mua cơ sở sản xuất của Invida tại Singapore, ước tính sẽ mang lại 220 triệu USD và 3.600 việc làm tại nơi này.

Valeant đồng ý chi hơn 600 triệu USD để thôn tính iNova, mở đường cho sự thâm nhập của họ vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Lundbeck xây dựng một trung tâm nghiên cứu tại Thượng Hải, tuy nhiên họ không sử dụng những khoa học gia bản xứ mà triển khai đội ngũ nhân viên của riêng mình đến nơi làm việc mới.

Merck & Co có thỏa thuận hợp tác tỷ lệ 51/49 với Công ty Dược Simcere của Trung Quốc để mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm của họ ở quốc gia đông dân nhất châu Á.

Do tác động của khủng hoảng kinh tế và nhiều bằng phát minh hết hạn bản quyền, chịu sức ép của thị trường thuốc generic, năm 2011-2012 việc tái cấu trúc đội ngũ nhân viên đã diễn ra tại hầu hết các công ty dược lớn vốn vẫn mang danh là những người khổng lồ trong thị trường dược phẩm. Merck cắt giảm 12.000 lao động, giúp tiết kiệm được 1,5 tỷ USD.

Pfizer cắt giảm khoảng 4.200 nhân viên, phần lớn là đội ngũ chuyên viên nghiên cứu và mua bán tại Hoa Kỳ và châu Âu. Novartis cắt giảm 2.000 việc làm, chủ yếu tại Hoa Kỳ và châu Âu, gồm chuyên viên, nhân viên bán hàng và công nhân, tiết kiệm được 200 triệu USD, đồng thời cũng di dời nhà máy sang châu Á. Abbott cắt giảm 1.900 việc làm.

AstraZeneca cắt giảm 1.500 nhân viên bán hàng và marketing tại Hoa Kỳ. Teva đóng cửa 1 nhà máy ở California, dự kiến cắt giảm 1.200-1.700 nhân viên.

Phân tán hoạt động

Trước kia, quy trình hoạt động của các tập đoàn dược tập trung và khép kín. Họ có nhân sự để làm từ A đến Z tất cả mọi công đoạn, từ nghiên cứu ra hoạt chất, đến phát triển sản phẩm, sản xuất và cuối cùng là marketing và buôn bán. Ngày nay, các tập đoàn dược phẩm đã thay đổi mô hình hoạt động tập trung khép kín sang mô hình phân tán, nhằm tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư phát triển sản phẩm.

Theo đó, các tập đoàn chỉ còn nắm độc quyền công đoạn cuối cùng là marketing và bán hàng. Quy trình nghiên cứu phát triển sản phẩm được tinh giản tối đa và được trợ giúp của những đối tác độc lập nhỏ hơn trong từng công đoạn. Các tập đoàn chỉ còn đóng vai trò giám sát và trả tiền.

Béo bở công nghiệp dược phẩm (K2): Xu thế phát triển ảnh 1

Xu hướng hợp tác giữa các đại gia dược và đối tác nhỏ hơn


Ngày nay đã xuất hiện nhiều công ty, tổ chức độc lập chịu trách nhiệm tư vấn và thiết kế dự án cho các tập đoàn dược phẩm. Việc nghiên cứu được giao cho phòng thí nghiệm ở các trường đại học (đổi lại cơ sở giáo dục này sẽ nhận tài trợ từ công ty dược).

Một số công ty đảm nhận thiết kế, tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân, và lo thủ tục pháp lý để đăng ký bằng phát minh, xin cấp phép lưu hành. Có những công ty khác phụ trách sản xuất, bào chế, đóng gói…

Trong quá khứ, hoạt động của các tập đoàn dược phẩm chỉ tập trung vào lĩnh vực thuốc, hoạt động kinh doanh xoay quanh vài sản phẩm thuốc do họ độc quyền sáng chế, và tất cả sự hiện diện của họ trên thị trường được biết đến với một cái tên duy nhất.

Nhưng gần đây, các tập đoàn dược phẩm không còn hoạt động tập trung nữa mà bắt đầu có xu hướng phân thân: chia nhỏ tập đoàn ra thành nhiều nhánh, nhiều mảng nhỏ riêng biệt, một sự đa dạng hóa lãnh vực kinh doanh, mở rộng ra nhiều loại sản phẩm khác nhau, kể cả thuốc generic. Để làm điều này, họ thâu tóm và sáp nhập những công ty nhỏ hơn, có tính bản địa.

Hiệu quả kinh tế của chiến lược này rất cao. Trường hợp phân thân của Abbott là một thí dụ, người ta dự đoán rằng nó sẽ giúp Abbott vươn lên ngôi dẫn đầu trong thị trường dược phẩm. Abbott từ chỗ chỉ tập trung sản xuất thuốc chữa bệnh, đã tự chia nhỏ thành nhiều mảng khác như: thuốc generic, sản phẩm dinh dưỡng, công cụ chẩn đoán và thiết bị y khoa.

Các công ty nhỏ này tồn tại như một thực thể riêng biệt. Sau Abbott, dự kiến sẽ đến Novartis, Pfizer và GSK đi theo con đường phân thân này. Nguyên nhân là do bản thân ngành dược phẩm có quá nhiều nguy cơ rủi ro của sự cân bằng giữa chi phí và lợi nhuận.

Theo thời gian, các loại thuốc độc quyền sẽ giảm sút lợi nhuận. Khi những “con gà” này bắt đầu đẻ ít trứng, các tập đoàn không còn muốn lệ thuộc hoàn toàn vào chúng nữa. Tại GSK, lợi nhuận từ thuốc độc quyền chỉ chiếm 23% trong tổng lợi nhuận chung, và đã giảm 40% so với năm 2007.

Những tên tuổi mới

Sau khi hết thời hạn bảo hộ bản quyền sáng chế, các loại thuốc generic trở thành con mồi rất béo bở cho tất cả thiên hạ chia phần. Tuy nhiên diễn biến của thị trường đã có nhiều bước ngoặt không ai ngờ, với xu hướng hợp tác hơn là cạnh tranh.

Thí dụ Gedeon Richter và STADA trao đổi bản quyền chéo cho 2 loại thuốc: Rituximab và Trastuzumab. Những tập đoàn dược lớn đã chủ động hợp tác với những đối tác nhỏ hơn trong việc khai thác thị trường generic. Trong số những đối tác nổi lên những gương mặt mới, đôi khi bất ngờ. Chẳng hạn năm 2011, Quintiles hợp tác với Samsung thành lập một liên doanh trị giá 266 triệu USD với tỷ lệ Quantiles 10, Samsung 90.

Biogen Idec bắt tay Samsung thông qua liên doanh 300 triệu USD, trong đó Samsung góp 85%. Merck hợp tác với Hanwha Chemical trong hợp đồng trị giá 720 triệu USD để khai thác sản phẩm Enbrel do Hanwha giữ bản quyền trước đây. Fujifilm chi gần nửa tỷ USD mua lại Merck BioManufacturing Network vào năm 2011 và sau đó thành lập liên doanh 50/50 với Kyowa Hakko Kirin.

Bảo Trúc

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất