Tiến tới giảm điện than tại ĐBSCL

(ĐTTCO) - Với 13 dự án nhà máy nhiệt điện đã vận hành và đang đầu tư xây dựng, ĐBSCL sẽ trở thành trung tâm nhiệt điện than lớn nhất cả nước, với tổng công suất ước đạt 17.068MW. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhiều nhà máy nhiệt điện sẽ để lại hậu quả ô nhiễm nguồn nước, không khí, sức khỏe cộng đồng và sinh kế của người dân. Vì vậy, cần tiến hành đánh giá tác động ô nhiễm môi trường của các nhà máy nhiệt điện, đồng thời sớm thực hiện quy hoạch phát triển năng lượng tổng thể vùng ĐBSCL.

(ĐTTCO) - Với 13 dự án nhà máy nhiệt điện đã vận hành và đang đầu tư xây dựng, ĐBSCL sẽ trở thành trung tâm nhiệt điện than lớn nhất cả nước, với tổng công suất ước đạt 17.068MW. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhiều nhà máy nhiệt điện sẽ để lại hậu quả ô nhiễm nguồn nước, không khí, sức khỏe cộng đồng và sinh kế của người dân. Vì vậy, cần tiến hành đánh giá tác động ô nhiễm môi trường của các nhà máy nhiệt điện, đồng thời sớm thực hiện quy hoạch phát triển năng lượng tổng thể vùng ĐBSCL.

Phụ thuộc quá lớn vào than nhập khẩu 

Tháng 10 năm ngoái Trung Quốc đã quyết định dừng 30 nhà máy điện than đang xây dựng với tổng công suất 17GW. Hay Pháp tuyên bố sẽ đóng cửa các nhà máy điện than trước năm 2023, trong khi nhiều quốc gia châu Âu cũng đang nỗ lực xóa bỏ các nhà máy điện than trước 2030. Vì vậy, Việt Nam nên phát triển điện tái tạo, nâng dần tỷ trọng điện tái tạo và giảm dần tỷ trọng nhiệt điện than trong những năm tới.

Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam

Theo tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh, đến năm 2020 cả nước có 31 nhà máy nhiệt điện than, đạt công suất 25.787MW. Năm 2025 con số này sẽ tăng lên 47 nhà máy nhiệt điện than, đạt công suất 45.152MW.

Và đến năm 2030 dự báo cả nước sẽ có 52 nhà máy nhiệt điện than, đạt công suất phát điện 55.252 MW. Tỷ trọng nhiệt điện than trong tổng công suất nguồn điện cả nước vào năm 2020 đạt 42,7% và tăng lên 47,3% vào năm 2025.

 Để đạt được công suất điện than theo tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh, cả nước cần nhập khẩu 24.495 triệu tấn than (năm 2020), 56.257 triệu tấn than (năm 2025), 85.243 triệu tấn than (năm 2030).

Bên cạnh đó, nguồn than trong nước cần để vận hành các nhà máy nhiệt điện theo quy hoạch, dự báo vào năm 2020 là 39.021 triệu tấn, đến năm 2030 là 44.433 triệu tấn. Trong khi nguồn than Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) cung ứng được dự báo chỉ đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu sử dụng than trong nước của các nhà máy nhiệt điện.

Riêng tại ĐBSCL, tổng công suất của 14 nhà máy nhiệt điện theo tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh đạt 18.268MW vào năm 2030, chiếm khoảng 33% tổng công suất nhiệt điện cả nước. Sau khi tỉnh Bạc Liêu quyết định loại bỏ nhà máy Nhiệt điện than Bạc Liêu I khỏi quy hoạch ngành điện, tổng công suất điện than của vùng ĐBSCL vào năm 2030 còn 17.028MW.

Trong 13 năm tới hàng loạt dự án điện than quy mô lớn được xây dựng tại ĐBSCL, như các nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu I, Sông Hậu II, Long An I, Long Phú I, Tân Phước I, Tân Phước II, Duyên Hải I, Duyên Hải II, Duyên Hải III có công suất phát điện 1.200MW/nhà máy. Các nhà máy nhiệt điện than Long An II có công suất 1.600MW, Long Phú II 1.320MW, Long Phú III 1.800MW và Duyên Hải III 1.904MW sau khi mở rộng hoạt động.

Điểm chung của các nhà máy nhiệt điện than tại ĐBSCL là đều sử dụng than nhập khẩu từ nước ngoài, trong số 13 nhà máy nhiệt điện than sẽ được xây dựng và vận hành từ nay đến 2030 chỉ Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải I do EVN đầu tư tại Trà Vinh sử dụng than Quảng Ninh.

Điều này cho thấy sự phụ thuộc rất lớn vào nguồn than nhập khẩu của các nhà máy nhiệt điện than tại ĐBSCL, khiến giá điện các nhà máy này sản xuất khó lường hơn. Một nghiên cứu của Viện Năng lượng đã chỉ ra rằng giá nhiên liệu than đầu vào chiếm 30-40% chi phí sản xuất điện, tùy theo công nghệ sản xuất  của từng nhà máy, và nếu giá than tăng 10% giá điện sản xuất của các nhà máy nhiệt điện sẽ tăng 3-4%.

Tiến tới giảm điện than tại ĐBSCL ảnh 1

Quang cảnh Nhà máy Nhiệt điện than Duyên Hải - Trà Vinh. Ảnh: LONG THANH

Nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng

Trong một nghiên cứu về quy hoạch phát triển nguồn điện tại ĐBSCL do Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh (GreenID) thực hiện cuối năm 2016, đã chỉ ra rằng với 1 nhà máy quy mô công suất phát điện 1.200MW như nhà máy Nhiệt điện Bạc Liêu I, sẽ xả ra lượng tro thải khoảng 960.000 tấn/năm, đồng thời lượng nước làm mát cho nhà máy xả ra môi trường đạt 4.665.600m3/ngày đêm. Tổng lượng nước xả thải khi đưa vào vận hành 13 nhà máy nhiệt điện tại vùng ĐBSCL vào năm 2030 ước khoảng 67.651.200m3/ngày đêm.

Những nghiên cứu đánh giá của GreenID cũng nhấn mạnh, nhiệt điện than là loại tiêu tốn nhiều nước nhất, để sản xuất ra 1MWH điện cần khoảng 4.163 lít nước, và có đến 95% lượng nước cho các nhà máy nhiệt điện than dùng để làm mát, khi thải ra môi trường sẽ có nhiệt độ 38-400 C.

Chỉ tính riêng lượng nước phục vụ sản xuất điện của Nhà máy nhiệt điện Long An I sử dụng trong 1 ngày gấp 3 lần công suất cấp nước sạch của Hà Nội. Mặt khác, chính công nghệ xử lý ô nhiễm tại các nhà máy nhiệt điện than có thể làm tăng thêm ô nhiễm nguồn nước, vì các nguồn thải độc từ khí được thu giữ tại các nhà máy cũng sẽ được sả thải vào nguồn nước.

Trong khi hiện nay nước đang là nguồn tài nguyên quan trọng đối  với sự phát triển của ĐBSCL. Một nghiên cứu do Đại học Harvard thực hiện vào năm 2015 cũng cảnh báo nếu tất cả nhà máy nhiệt điện than trong quy hoạch điện VII hoạt động sẽ làm cho vấn đề ô nhiễm không khí tại ĐBSCL trở nên trầm trọng.

Trong một khuyến nghị chính sách mới đây, Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam đã cảnh báo chính sách nhiệt điện than không phải là giải pháp thay thế phù hợp từ nay đến năm 2030 khi Chính phủ chưa đầu tư dự án nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận theo tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh.

Liên minh này cho rằng các nhà máy nhiệt điện than là nguồn phát thải lớn nhất trong lĩnh vực năng lượng và là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí. Các giai đoạn trong vòng đời sản xuất điện than từ khai thác, chế biến, vận chuyển, đốt than, xử lý tro xỉ đều thải ra các chất gây ô nhiễm không khí, thải ra các loại bụi, khí độc chứa SO2, Nox, CO, CO2, CH4, đặc biệt là khí PM2.

Vấn đề tro xỉ thải của các nhà máy nhiệt điện than đến nay vẫn chưa có lời giải, các nhà máy điện than Việt Nam đang thải ra khoảng 15 triệu tấn tro xỉ/năm, trong đó chỉ có 10% được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng. Theo tính toán của liên minh này, lượng nước thải xả ra môi trường của các nhà máy nhiệt điện than có nhiệt độ cao hơn nước làm mát đầu vào từ 5,6-110C, vì vậy sẽ phá hủy môi trường sống của cá và các loài thủy sinh khu vực lân cận.

Một báo cáo mới nhất của Kiko Network cũng chỉ ra sự thất bại của công nghệ điện than hiện đại nhất toàn cầu hiện nay: IGCC - Chương trình hỗn hợp khí hóa phát điện. Công nghệ này giảm được 20% lượng phát thải nhưng lại tăng 35% về chi phí so với công nghệ truyền thống. Vì vậy nhiệt điện than sẽ không còn là loại hình sản xuất điện giá rẻ. Thực tế nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang loại bỏ nhiệt điện than trong cơ cấu nguồn phát điện. 

Đăng Tuân

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Bịt lỗ hổng cơ chế đầu tư BOT

Bịt lỗ hổng cơ chế đầu tư BOT

(ĐTTCO) - Cả nước hiện có 88 dự án BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) được xây dựng, gắn với nó là chừng ấy trạm thu phí BOT giao thông. 

Công nghệ - Xe

McLaren 720S màu tím hàng hiếm

(ĐTTCO)- McLaren 720S màu tím do hãng MSO độ lại. Chiếc xe đặc biệt này được thiết kế dành riêng cho Michael Fux - một doanh nhân Mỹ.

Du lịch

Du lịch dịp lễ Quốc khánh

(ĐTTCO) - Nếu hè rồi bạn chưa kịp thưởng cho mình và gia đình một kỳ nghỉ thì dịp nghỉ lễ Quốc khánh này sẽ là một cơ hội tuyệt vời để có thể nạp thêm năng lượng thông qua những chuyến du lịch cùng người thân, bạn bè. 
 

Khởi nghiệp

Nông nghiệp công nghệ cao: Gian nan vẫn không nản

(ĐTTCO) - Nông nghiệp công nghệ cao đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ Chính phủ với nhiều chính sách ưu đãi, thế nhưng nhiều DN tham gia lĩnh vực này vẫn gặp nhiều khó khăn.