Liên kết phát triển thương hiệu chè

Mặc dù có diện tích trồng chè đứng thứ 5 trên thế giới và là một trong những quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất, nhưng cho đến nay bài toán phát triển thương hiệu vẫn chưa được DN ngành chè trong nước chú trọng đúng mức. ĐTTC đã trao đổi với ông Đoàn Anh Tuân, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam, xung quanh vấn đề này.

PHÓNG VIÊN: - Ông đánh giá như thế nào về vị thế của ngành chè Việt Nam trên thị trường thế giới?

Ông ĐOÀN ANH TUÂN: - Theo số liệu thống kê của năm 2011, cả nước có khoảng 133.300ha đất trồng chè, sản lượng chè búp tươi đạt 888.600 tấn với kim ngạch xuất khẩu 204,3 triệu USD.

Quý I năm nay, sản lượng chè xuất khẩu gần 30.000 tấn, đạt kim ngạch 41,5 triệu USD, tăng 20% về lượng và 19% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện ngành chè Việt Nam đứng hàng thứ 5 trên thế giới về diện tích và thứ 8 về sản lượng chè xuất khẩu.

Tổng công suất chế biến chè đạt gần 4.650 tấn/ngày, năng lực chế biến đạt khoảng 1,5 triệu tấn búp/năm và có khoảng 450 cơ sở chế biến có quy mô công suất sản xuất từ 1 tấn/ngày trở lên. Chè Việt Nam đã xuất khẩu đến khoảng 110 quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó 3 thị trường xuất khẩu là Trung Quốc, Nga và Pakistan đạt kim ngạch trên 10 triệu USD.

Tuy nhiên, một điều đáng buồn là hiện giá xuất khẩu chè Việt Nam lại thấp nhất thế giới, chỉ có 1.164 USD/tấn, trong khi chè của Sri Lanka có giá 4.073 USD/tấn, Ấn Độ là 2.864 USD/tấn, còn các nước ở châu Âu lên tới 10.134 USD/tấn, gấp 9-10 lần chè Việt Nam.

- Nguyên nhân nào khiến giá chè xuất khẩu Việt Nam thấp hơn nhiều so với giá chè thế giới?

- Khi gia nhập WTO, ngành chè Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt trên một sân chơi đòi hỏi những nguyên tắc phải tuân thủ về số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, nông dân Việt Nam vẫn còn trồng theo dạng manh mún nhỏ lẻ, chất lượng không đồng đều, dẫn đến tình trạng giá trị xuất khẩu thấp và luôn phải chịu nhiều biện pháp kiểm dịch.

Các DN lại chưa đồng hành cùng nông dân nên bài toán xây dựng thương hiệu không thể giải được. Theo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), cả nước hiện có khoảng 90.000 thương hiệu các loại hàng hóa đăng ký thương hiệu.

Trong tổng số đó, các thương hiệu Việt Nam đăng ký chỉ chiếm khoảng 15%. Đối với thị trường nước ngoài, hiện nay, khoảng 90% sản lượng hàng nông sản Việt Nam đã được xuất đi các thị trường trên toàn cầu nhưng chỉ 20% số nhãn hiệu nông sản có đăng ký thương hiệu.

Liên kết phát triển thương hiệu chè ảnh 1
  Bảo Lộc, vùng nguyên liệu chè
lớn nhất tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: THÁI BẰNG

Ngoài ra, dù đã có thị trường xuất khẩu rộng lớn nhưng đa số chè Việt Nam đều xuất khẩu dưới dạng thô, rất ít sản phẩm xuất khẩu được đóng gói bao bì hoàn chỉnh. Khi tham gia xuất khẩu, các DN Việt Nam lại không tiếp xúc trực tiếp với các nhà nhập khẩu mà thông qua thương lái nên thường xuyên rơi vào tình trạng bị ép giá.

Các thương lái cũng lợi dụng tình trạng này để thay đổi thương hiệu sản phẩm chè Việt Nam nhằm đưa vào các thị trường.

Khi nhập nguyên liệu thô, các nhà sản xuất ở các thị trường chế biến lại thành sản phẩm hoàn chỉnh và xuất đi các thị trường khác, trong đó có Việt Nam với mức chênh lệch giữa giá bán nguyên liệu thô và giá bán sản phẩm lên đến cả chục lần.

Như vậy, một cách gián tiếp, Việt Nam đang trở thành vùng nguyên liệu chè của nước ngoài.

- Theo ông cần có những biện pháp nào để khắc phục tình trạng này?

- Hiện nay, một số quốc gia như Bangladesh, Indonesia cũng đang xuất khẩu chè thô nhưng đạt giá trị cao hơn Việt Nam do họ xây dựng được thương hiệu thông qua chất lượng sản phẩm, đồng thời đưa chè lên sàn đấu giá để trực tiếp tiếp cận với các nhà nhập khẩu mà không qua bất cứ khâu trung gian nào.

Muốn làm được điều này, các DN kinh doanh chè Việt Nam nên tự đứng ra trồng chè hoặc động viên, khuyến khích người nông dân để tạo ra nguồn sản phẩm có chất lượng đúng theo tiêu chuẩn quốc tế và thu mua lại với giá hợp lý.

Khi liên kết với người nông dân, các DN ngành chè cũng sẽ loại bỏ được tình trạng các đơn vị thu mua chè mùa vụ vì mục đích kinh doanh đơn thuần.

Những công ty này sẵn sàng thu mua bất chấp chất lượng và bán lại cho các nhà máy sản xuất khiến thị trường tràn ngập sản phẩm kém chất lượng và giá rẻ làm mất uy tín chè Việt Nam.

Bên cạnh đó, tự thân các DN cũng nên đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ theo hướng hiện đại hóa, hướng đến những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đặc biệt chú trọng đến việc đáp ứng đúng quy chuẩn về an toàn thực phẩm đối với hàng nông sản.

Ngoài những yếu tố trên, ngành chè đang rất cần có một sàn giao dịch, tạo ra một sân chơi bình đẳng để các DN có thể quảng bá thương hiệu và mua bán sản phẩm minh bạch. Đây sẽ là cơ sở để từng bước tiến tới việc xây dựng trung tâm đấu giá chè như các nước.

Vấn đề cần khắc phục ngay là các DN Việt Nam đông nhưng lại mạnh ai nấy làm và không đủ lực về vốn nên rất khó giành lại vị thế cũng như khó xây dựng được thương hiệu. Vì thế cần có những chiến lược liên kết phát triển hợp lý ngay từ bây giờ.

- Ông đánh giá như thế nào về mức độ quan tâm phát triển vùng nguyên liệu chè của các DN trong ngành?

- Trong những năm gần đây, hàng trăm DN tham gia xuất khẩu và chế biến chè ra đời, nhưng hầu như có rất ít DN đứng ra trồng chè, ngoài các DN có vốn nước ngoài đến từ Đài Loan, Nhật Bản hoặc các công ty liên doanh nước ngoài như Phú Đa, Phú Bền.

Mới đây, Công ty Unilever Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác dự án phát triển chè Việt Nam với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thỏa thuận hợp tác này có khả năng liên kết khoảng 50.000 đến 70.000 hộ nông dân tham gia vào chuỗi cung ứng chè.

Trong năm 2011, tập đoàn này đã thu mua khoảng 10.000 tấn chè và dự kiến năm 2012-2015, Unilever sẽ tập trung mở rộng đầu tư vào các vườn chè và mạng lưới hộ trồng chè và đặt mục tiêu thu gom 25.000-30.000 tấn chè/năm và đến giai đoạn 3 từ năm 2015 trở đi, Việt Nam sẽ trở thành nguồn cung cấp chè chủ yếu cho Unilever.

- Xin cảm ơn ông.

Yên Lam (ghi)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Công nghệ - Xe

Du lịch

Khởi nghiệp

Chính sách riêng cho khởi nghiệp

(ĐTTCO) - Nhiều người nghĩ rằng khởi nghiệp có thể bắt đầu ngay bằng việc sở hữu một ý tưởng, nhưng thực tế như vậy chưa đủ. Để khởi nghiệp phải hội tụ đủ một loạt yếu tố cần thiết, bao gồm công nghệ, đội ngũ, kế hoạch, nguồn vốn và cả kiến thức về DN cũng như pháp luật.