Cải cách thuế bằng lợi ích thiết thực

Hiện nay, xu hướng thuế ở các quốc gia trên thế giới đang đi theo hướng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế giá trị gia tăng để hỗ trợ các DN, trong khi đó mức thuế ở Việt Nam vẫn còn quá cao, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của DN.

Hướng đến thông lệ quốc tế

Theo số liệu mới nhất của Bộ Tài chính công bố về tình hình hoạt động của DN, có một chi tiết đáng lưu ý là trong tháng 7- 2012, có 937 DN công bố ngừng hoạt động đã phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Đây là một tín hiệu vui, cho thấy những chính sách hỗ trợ DN phần nào phát huy được hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế, con số DN đang phục hồi còn quá ít so với hàng chục ngàn DN đã phá sản hay tạm ngưng hoạt động trong thời gian qua.

Trong chiến lược cải cách thuế được Chính phủ phê duyệt, vào năm 2015, mức thuế TNDN sẽ được giảm xuống còn 22-23% và đến năm 2020 sẽ giảm còn 20%. Tuy nhiên, DN đang rất cần được giảm thuế ngay để cải thiện sản xuất thay vì phải chờ đợi theo đúng lộ trình.

NGUYỄN THỊ CÚC

Có thể nói, các chính sách về hạ lãi suất vay vốn, giảm, giãn thuế TNDN tuy có tác động tốt nhưng chỉ tốt với các DN còn tồn tại được hoặc với các DN lớn, còn các DN đã lâm vào tình trạng suy kiệt hoàn toàn, chính sách này không có tác dụng. Để hạn chế tình trạng này, các chính sách thuế cần được xem lại để DN dễ thở hơn.

Theo đánh giá của các chuyên gia, so với thông lệ quốc tế, mức độ quản lý thuế ở Việt Nam còn ở mức dưới trung bình trong cả 15 chức năng chính và chức năng phụ. Trong các nước ASEAN, Việt Nam xếp hạng cuối cùng trong danh sách về nộp thuế, các DN ở Việt Nam phải làm việc về thuế khá nhiều.

Do vậy, việc cải cách hệ thống quản lý thuế theo thông lệ quốc tế là rất cần thiết. Để cải cách hệ thống quản lý thuế đạt chuẩn quốc tế, ngành thuế cần xem xét lại 4 chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: tính minh bạch, tính công bằng, tính hiệu quả và bền vững của thu ngân sách.

Cải cách thuế không chỉ hỗ trợ cho DN mà còn hướng đến việc chống thất thu ngân sách. Chẳng hạn các DN nước ta có xu hướng sử dụng vốn vay nhiều hơn vốn tự có, vì chi phí lãi vay thường được tính vào chi phí khấu trừ khi xác định mức thu nhập tính thuế của DN, giúp DN giảm bớt nghĩa vụ nộp thuế.

Do vậy, cơ quan quản lý cần quy định cụ thể tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN ở mức hợp lý, thí dụ như tỷ lệ vốn vay không được vượt quá 5 lần vốn điều lệ của DN, hoặc đưa ra những cơ sở bảo đảm phù hợp với thực tế mà cơ quan quản lý có thể kiểm tra kiểm soát được.

Đồng thời, luật cũng cần bổ sung quy định các khoản chi trả lãi tối đa đối với vốn vay sản xuất sẽ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế để tránh thất thu ngân sách. Ngoài ra, cần có thêm những quy định cải cách về thuế TNDN như không hạn chế các khoản chi sản xuất kinh doanh được trừ, hợp lý hóa ưu đãi thuế… phù hợp với thông lệ quốc tế.

Giảm thuế cứu DN

Chính sách thuế TNDN trong những năm qua đã có sự thay đổi lớn, theo hướng giảm dần từ 32% xuống còn 28%, từ năm 2009 đến nay mức thuế TNDN được áp dụng là 25% đã giúp cho các DN nước ngoài cảm thấy sức hút của thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, môi trường kinh doanh trong thời điểm hiện tại đã có nhiều thay đổi và DN rất cần được giảm thuế để giảm bớt chi phí, thu hút đầu tư.

Cải cách thuế bằng lợi ích thiết thực ảnh 1

Nên xem xét giảm thuế để cứu DN trước lộ trình. Ảnh: KIM NGÂN

Theo phản ánh của nhiều DN, thời gian qua chính sách thuế TNDN đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, vì mức thuế 25% đang áp dụng là quá cao cộng với sự khó khăn kéo dài của nền kinh tế đã dựng lên rào cản lớn, khiến các DN rơi vào tình trạng thiếu động lực để sản xuất.

Vì vậy, chính sách thuế cần được cải cách mang tính đột phá, cụ thể cần giảm thuế TNDN xuống còn 20%, khi đó DN có sẽ có cơ hội để thực hiện tái đầu tư, đẩy mạnh hoạt động sản xuất. Theo đó, thay vì nộp thêm 5% vào ngân sách nhà nước, DN có sẽ có thêm vốn để bổ sung vào hoạt động.

Hiện nay, Thuế giá trị gia tăng (VAT) ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý. Thứ nhất, danh mục hàng hóa-dịch vụ chịu thuế lên đến 25 nhóm, điều này gây khó trong vấn đề quản lý cũng như trong việc đảm bảo DN tuân thủ đúng quy định.

Với 3 mức thuế suất được áp dụng là 0% đối với hàng hóa-dịch vụ xuất khẩu, 5% đối với nhóm hàng hóa-dịch vụ hàng hóa thiết yếu và 10% đối với các hàng hóa-dịch vụ khác, khiến cho việc khấu trừ thuế giữa các khâu mua bán, đầu vào đầu ra vướng nhiều khó khăn.

Quy định thuế suất đối với các loại hàng hóa, dịch vụ lại được tính theo công dụng hoặc nguyên vật liệu của sản phẩm, nên gây ra sự lúng túng khi xác định mức thuế suất đối với từng sản phẩm cụ thể. Thứ hai, Luật thuế VAT của Việt Nam đang thực hiện 2 phương pháp tính thuế là khấu trừ và trực tiếp.

Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới đã bãi bỏ cách tính thuế trực tiếp đối với những cơ sở kinh doanh nhỏ, thay vào đó là thiết lập ngưỡng doanh thu chịu thuế theo phương pháp khấu trừ để có thể lưu trữ hóa đơn chứng từ phòng trường hợp cần kiểm tra, đối chiếu về sau.

Vì vậy, ngành thuế cần học tập kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới để tiến hành cải cách phù hợp với điều kiện mới.

NGUYỄN THỊ CÚC, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Nikkei: FLC đầy tham vọng khi mở rộng lĩnh vực kinh doanh

Nikkei: FLC đầy tham vọng khi mở rộng lĩnh vực kinh doanh

(ĐTTCO) - Trong bài viết mới đây, tờ Nikkei (Nhật Bản) đánh giá việc FLC muốn lấn sân thêm mảng casino và thậm chí cả ngành dịch vụ hàng không là kế hoạch đầy tham vọng về việc mở rộng hoạt động kinh doanh. 

Công nghệ - Xe

Du lịch

Kéo Cô Tô gần lại

(ĐTTCO) - Sau nhiều lần lỡ hẹn, chúng tôi đã quyết định đến Cô Tô. Một hành trình không hề dễ dàng khi từ Hà Nội đến Cô Tô phải mất đến gần 10 giờ, chúng tôi nói vui gần bằng thời gian bay từ Hà Nội tới Paris.

Khởi nghiệp

Khởi tranh cuộc thi Startup Zone 2017

(ĐTTCO) - Vòng 1 "Tôi! Khởi Nghiệp" của cuộc thi Startup Zone 2017 do CLB Nhân sự  - Khởi nghiệp Trường ĐH Kinh tế TPHCM tổ chức đã diễn ra thành công với sự tham gia của hơn 3.000 sinh viên đến từ nhiều trường đại học, cao đẳng ở khu vực miền Nam.