Quỹ thành viên: Có “cơ” chưa đến “thời”

(ĐTTCO)-Quỹ thành viên (QTV) là mô hình quỹ đầu tư do một số lượng giới hạn (không quá 30) thành viên là các pháp nhân trong và ngoài nước góp vốn thành lập. Hiện nay có khoảng 10 QTV trong nước đang hoạt động, tuy nhiên những thông tin liên quan lại ít khi xuất hiện.

Nhiều cơ hội vì có sự hậu thuẫn

Tháng 10-2015, VietinBank Capital thành lập Quỹ đầu tư Khám phá giá trị VietinBank (VVDIF) với số vốn ban đầu là 100 tỷ đồng và mục tiêu nâng lên thành 500 tỷ đồng. VVDIF là QTV dạng đóng, thời hạn hoạt động 5 năm kể từ ngày 9-10-2015 sẽ đầu tư vào các lĩnh vực như CP niêm yết, chưa niêm yết, các doanh nghiệp IPO, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thoái vốn để trở thành cổ đông lớn trong các DN đầu tư…

 

Quỹ thành viên: Có “cơ” chưa đến “thời” ảnh 1

Một tháng sau, vào ngày 7-11-2015, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập, Baoviet Fund cũng ra mắt QTV có quy mô vốn ban đầu lên đến 1.000 tỷ đồng (ảnh) là Quỹ đầu tư Giá trị Bảo Việt (BVIF). Với thế mạnh của Baoviet Fund trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư, BVIF được ra đời nhằm mục đích đón đầu làn sóng M&A, hoạt động cổ phần hóa và thoái vốn DNNN, nắm bắt cơ hội từ luồng vốn đầu tư mới do hiệu ứng từ quy định nới “room” và đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thành công. Chiến lược đầu tư của BVIF là tham gia các đợt IPO cổ phần hóa DNNN, mua-bán tái cấu trúc DN, các đợt thoái vốn ngoài ngành… với định hướng trở thành cổ đông lớn để có thể cùng tham gia vào hoạt động quản trị của DN và tạo ra các giá trị gia tăng. 

Thế mạnh của QTV kể trên là rất rõ ràng. Trước tiên được thành lập bởi các công ty quản lý quỹ (CTQLQ) có tên tuổi và trực thuộc những định chế tài chính mạnh như VietinBank Capital do VietinBank (CTG) hậu thuẫn, còn Baoviet Fund là thành viên của Tập đoàn Bảo Việt (BVH). Uy tín, cũng như tiềm lực tài chính của BVH hay CTG cũng là lợi thế đáng kể để các QTV huy động vốn. Như trường hợp của BVIF, việc huy động 1.000 tỷ đồng, xấp xỉ 50 triệu USD là không hề đơn giản, không chỉ quỹ trong nước mà còn cả quỹ nước ngoài. Một lợi thế kế tiếp cũng cần nói đến là thành viên pháp nhân cùng với số lượng giới hạn cũng có thể giúp các QTV gặp nhiều thuận lợi trong việc triển khai các chiến lược, ý tưởng đầu tư.

Cần nói rõ, với các mô hình quỹ đầu tư dành cho công chúng, dù ở dạng đóng hay mở áp lực minh bạch thông tin, giám sát sẽ chặt chẽ hơn nhiều, chưa kể việc các quỹ sẽ phải thận trọng cân nhắc rủi ro/lợi nhuận… Nói một cách đơn giản hơn, đầu tư với số tiền lớn, tất nhiên cũng phải cân nhắc, thận trọng nhưng đôi khi cũng cần quyết đoán, nhanh chóng và mạo hiểm hơn. Hơn nữa, với các thành viên là các tổ chức, DN thì QTV cũng có thể nhận được những sự hỗ trợ liên quan đến kinh nghiệm, quan hệ, mức độ am hiểu ngành để việc đầu tư có thể trở nên hiệu quả hơn.

Cần những cú hích

Sự kín tiếng của các QTV có thể bắt nguồn từ một số nguyên nhân: bảo mật thông tin của các thành viên, thông tin đầu tư. Như đã nói ở trên, QTV không phải là quỹ đại chúng nên cũng sẽ không công bố thông tin rộng rãi. Hồi đầu năm 2015, QTV Vietcombank I (VPF1) do VCBF (liên doanh giữa VCB và Franklin Templeton) đã giải thể. Thực tế thông tin về VPF1, thành lập vào năm 2005, có thời hạn hoạt động ban đầu 8 năm cũng chỉ có giới đâu tư làm quản lý quỹ nắm bắt và không thường xuyên xuất hiện. Nhưng ở đây còn một thực tế là không phải QTV nào cũng hoạt động hiệu quả xét trên nhiều phương diện. Chẳng hạn, nếu có những QTV vốn trăm tỷ, nghìn tỷ đồng thì cũng có những quỹ vốn chỉ vài chục tỷ đồng, với số vốn như vậy việc có thể triển khai các thương vụ đầu tư có quy mô cũng như hiệu quả là không hề đơn giản, vì không thể mua cổ phần với số lượng lớn nên không thể tham gia sâu vào hoạt động của DN. Một khía cạnh khác cũng cần nói đến là dù số tiền huy động ban đầu có thể lớn, nhưng nếu là tiền theo kiểu “seed money”, nghĩa là tiền chủ yếu đến từ nội bộ, chẳng hạn như tập đoàn mẹ, các đơn vị thành viên và ban lãnh đạo, thì thách thức dành cho QTV vẫn còn.

Trong một chừng mực nào đó, nếu QTV đầu tư với seed money thì chính tập đoàn mẹ cũng được hưởng lợi nhờ đem tiền cho “con” sinh lãi hiệu quả. Tuy nhiên, CTQLQ nào cũng muốn huy động được càng nhiều nguồn tiền bên ngoài càng tốt. Seed money chỉ như một sự đảm bảo rằng “người nhà” đã sẵn sàng bỏ vào số tiền lớn, cũng có nghĩa là sự bảo chứng cho CTQLQ cũng sẽ hoạt động hiệu quả như vậy. Dù vậy, việc tìm kiếm các tổ chức trong nước sẵn sàng bỏ tiền và các CTQLQ lúc này là không đơn giản. Sau một giai đoạn sa lầy vì đầu tư tài chính, trái ngành và lãnh quả đắng vào năm 2008, hiện nay hầu như những công ty niêm yết lớn đều không còn mặn mà, dù rằng đây là những công ty có hiểu biết, quan điểm khá rõ nét về hoạt động này.

Kỳ vọng của các quỹ đầu tư có thể đến từ dòng vốn từ các tổ chức nước ngoài, nhưng cái khó ở đây là các CTQLQ trong nước sẽ phải cạnh tranh với các CTQLQ nước ngoài với thâm niên, kinh nghiệm và cả hình ảnh rất “đồ sộ”. Nghĩa là trong khoảng từ 3-5 năm nữa, các QTV nhiều khả năng sẽ phải tiếp tục sinh lãi hiệu quả trên nguồn tiền mình đang có, có thể từ một số ít thành viên quan tâm, hoặc cũng là seed money để chứng tỏ hiệu quả. Song quan trọng nhất là phải có những thương vụ thành công kiểu như đầu tư với giá trị lớn vào DN, hay một thương vụ IPO, tham gia ban lãnh đạo và nâng tầm DN lên cao hơn, từ đó giá CP cũng gia tăng tương ứng. Có như vậy, những tổ chức, DN mới thấy được lợi thế của QTV được quản lý bởi các CTQLQ trong nước và dần dần bỏ thêm tiền vào.

NGỌC TRÚC

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Phân tích

Giá nào cho cổ phiếu tăng trưởng và câu chuyện Vietjet

(ĐTTCO) - Benjamin Graham, bậc thầy chứng khoán về đầu tư giá trị, đã từng nói: "Đầu tư không phải là việc thắng những người khác trong trò chơi của họ, mà là việc kiểm soát mình trong chính trò chơi của mình".

Hồ sơ

SAB đắt hay rẻ?

(ĐTTCO) - Với mức giá 260.000-280.000 đồng/CP, P/E của SAB (Sabeco) dao động quanh vùng 35-37 lần. Trong khi đó, P/E của một số tên tuổi trong lĩnh vực sản xuất bia như Carlsberg hay Heineken chỉ rơi vào tầm 20 hay 21 lần.